GIÁO XỨ TRÀ KÊ

(Bổn mạng Thánh Giuse 19/3)

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

Phần đất giáo xứ Trà Kê bao gồm xã Phước Tân, xã Sơn Hội và xã Cà Lúi, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Trung tâm sinh hoạt của giáo xứ là Nhà thờ Trà Kê, xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

II. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ:

Phần đất giáo xứ Trà Kê là vùng núi cao của Phú Yên, đường đi hiểm trở, các cụm dân cư thường cách xa nhau. Trong báo cáo của Đức cha Stêphanô Thể gởi về Hội Thừa Sai Ba Lê năm 1850, chưa thấy có tên một giáo điểm hoặc một nhà thờ nào thuộc vùng đất giáo xứ ngày nay. Trong báo cáo năm 1897 của Đức cha Van Calmelbeke, Giám mục hiệu tòa Hiérocésarée, có ghi rằng: “ Nhà thờ Trà Kê được hoàn thành. Nhà thờ nầy được xây lại trên nền nhà nguyện cũ đã có trước năm 1861” [3]. Như thế Trà Kê là một giáo điểm được các Thừa Sai Balê thành lập sau năm 1850 và trước năm 1861. Năm 1867, vừa sau khi thụ phong linh mục, cha Tađêô Tín quê Phú Thượng được bổ nhiệm phụ trách Trà Kê, Cây Da và Đồng Tre cho đến khi cha François Chatelet (cố Thuông) đến thay thế [4].

Cha Chatelet sinh ngày 20/04/1855 tại Saint-Didier-sur-Beaujeu, Pháp. Thụ phong linh mục ngày 26/09/1880, tháng 10/1880 lên đường đến Việt Nam, ngài được chỉ định đến Trà Kê. Khi sự bách hại của Văn Thân năm 1885 làm cho vùng Trà Kê không được an toàn, cha Chatelet củng cố giáo điểm Cây Da, cách Trà Kê khoảng 08 km về hướng Đông-Bắc, một vị trí  tương đối hiểm trở, có suối bao bọc xung quanh  nhằm bảo vệ nhóm tín hữu Trà Kê-Đồng Tre và các vùng miền xuôi tập trung về.

Ngày 26/08/1885 Văn Thân đã phá được phòng tuyến, xông vào nhà thờ sát hại cha Chatelet và một số tín hữu. Thầy Anrê Cậy, đang giúp xứ Cây Da, bị đâm vào cổ ngã nằm chung với các tín hữu đã bị sát hại, Văn Thân tưởng thầy đã chết, sau đó thầy được cứu sống và thụ phong Linh mục. Lòng đất Cây Da đã được vinh hạnh đón nhận thân xác cha Chatelet và một số tín hữu cùng dâng hy lễ máu đào trong ngày lịch sử ấy, hiện nay cha Chatelet đã được cải táng về nhà An Bình giáo xứ Tuy Hoà. Trong khi Văn Thân tàn phá tại nhà thờ Cây Da, có một người hô lớn tiếng: “ Anh em ơi, nếu phải chết thì hãy giết một ít kẻ cướp nầy rồi hãy chết”. Những người còn sống vùng dậy, Văn Thân bị phản công bất ngờ, phải rút lui nhưng Văn Thân vẫn bao vây gần 02 tháng. Được sự ủy nhiệm của Đức cha Van Camelbeke Hân, ngày 03/10/1885 cha Joseph Auger (cố Đoàn) và cha Phêrô Huề đưa 300 người có trang bị 50 súng trường từ Qui Nhơn vào tiếp cứu, sáng ngày 05/10/1885 tín hữu Cây Da được giải vây. Để được an toàn hơn, cha Auger và cha Huề dẫn đoàn tín hữu còn sống sót về Qui Nhơn[5].

Sau thời gian bị bách hại, tình hình được yên ổn, đầu năm 1887 Đức chaVan Calmelbeke bổ nhiệm cha Joseph Guitton cùng 02 cha phụ tá là cha Gioakim Đạt và cha Phêrô Huề đến Phú Yên. Cha Guitton phụ trách phía Tây Phú Yên, ở tại Cây Da. Cha Gioakim Đạt và cha Phêrô Huề phụ trách phía Nam Phú Yên, ở tại Hoa Vông.

Ngày 10/04/1888 cha Joseph Lacassagne (cố Xuân) được bổ nhiệm đến Phú Yên với chức năng quản nhiệm toàn vùng truyền giáo Phú Yên, ngài được tự do chọn Hoa Vông hoặc Mằng Lăng làm trụ sở. Ngài đã chọn Mằng Lăng.

Tháng 09/1888 Đức cha Van Camelbeke chia Phú Yên làm 02 vùng: Cha Guitton phụ trách vùng Nam Phú Yên, đặt cư sở tại Hoa Vông, cha Gioakim Đạt làm phụ tá. Cha Lacassagne phụ trách vùng phía Bắc đặt cư sở tại Mằng Lăng, có cha Phêrô Huề  làm phụ tá ở tại Cây Da.

Tháng 02/1893, tân linh mục Giuse Trần Nhi được bổ nhiệm về Cây Da, cha Huề đi củng Sơn. Hơn 04 tháng sau, cha Antôn Bản từ Ninh Hoà được bổ nhiệm về Cây Da, cha Nhi đi củng Sơn, cha Huề về Phú Điền, quê hương của ngài. Năm 1895 cha Wendling được bổ nhiệm phụ trách mục vụ vùng Trà Kê – Cây Da, cha Nhi làm phụ tá về ở tại Tịnh Sơn. Cha Antôn Bản vẫn là phụ tá cho cha Lacassagne về ở tại Gò Duối.

Năm 1896 cha Wendling chính thức đảm nhiệm vùng miền núi Phú Yên. Năm 1897, cha Wendling hoàn thành ngôi nhà thờ mới tại Trà Kê. Năm 1901 cha Wendling được bổ nhiệm về Mằng Lăng [6], cha Perreaux đến ở tại Cây Da trong một thời gian ngắn. Cùng năm 1901 cha Porcher được bổ nhiệm về Cây Da. Ngày 14/07/1901 cha Antôn Cẩm về Tịnh Sơn thay thế cha Nhi. Theo báo cáo năm 1903 của Đức cha Grangeon Mẫn, toàn vùng Trà Kê có 2.055 tín hữu rải rác trong 20 cộng đoàn rất cách xa nhau.

Tháng 08/1905 cha Phêrô Giảng về Cây Da phụ tá cho cha Porcher, sau đó cha Porcher về kiến thiết Đồng Tre, thường xuyên ở tại Đồng Tre cho đến năm 1918, cha Porcher được bổ nhiệm làm cha sở Hoa Vông.

Trong chuyến viếng thăm mục vụ Phú Yên, vào ngày 18/04/1907 Đức cha Grangeon đến Trà Kê và ngày 20 làm phép nhà thờ Trà Kê vừa mới được cha Porcher tu sửa.

Năm 1910 cha Phêrô Giảng đổi đi Bàu Gốc, cha Giacôbê Lê Kim Dung được bổ nhiệm làm phụ tá cho cha Porcher. Cha Dung ở tại Trà Kê. Trà Kê – Cây Da lúc nầy là giáo họ thuộc Đồng Tre. Trong thống kê năm 1910-1911 vùng Phú Yên có 04 giáo xứ [7]:

- Mằng Lăng : 19 giáo điểm với 1.790 giáo dân.

- Đồng Tre :    10 giáo điểm với 1.093 giáo dân.

- Hoa Vông :   13 giáo điểm với 1.113 giáo dân.

- Tịnh Sơn :     04 giáo điểm với    305 giáo dân.

Năm 1919, Trà Kê đã hiện diện trong bảng thống kê hiện tình giáo phận năm 1919-1920 [8]

- Mằng Lăng        1.715 giáo dân

- Đồng Tre                              410 giáo dân

- Trà Kê                                  555 giáo dân

- Tịnh Sơn                              630 giáo dân

- Hoa Vông                            570 giáo dân.

Tháng 06 năm 1928,  cha Giacôbê Dung từ Trà Kê về làm cha sở Mằng Lăng. Tháng 08/1928 cha Phêrô Huỳnh Quang Sinh được bổ nhiệm về làm cha phó Tịnh Sơn – Trà Kê. Từ khi cha Giacôbê Dung được bổ nhiệm về Mằng Lăng, Trà Kê-Cây Da do cha sở Tịnh Sơn kiêm nhiệm:

-Cha Antôn Phạm Cảnh Chẩm   (1928-1931)

-Cha Tôma Triều                      (1931-1935)

-Cha Phaolô Nguyễn Xuân Bàn (7/1935-8/1935)

-Cha Anrê Nguyễn Văn Tường   (1936-1940)

-Cha Phêrô Lê Vĩnh Phước         (1940-1943)

Tháng 8/1943, Cha Augustinô Thìn được bổ nhiệm làm cha sở Trà Kê.

Tháng 04/1944, Cha Antôn Dẫn được bổ nhiệm làm cha sở Trà Kê, thay cha Augustinô Thìn được bổ nhiệm làm cha sở Lạc Điền [9]. Năm 1947, cha Antôn Dẫn bị Việt Minh bắn chết và thiêu đốt trên đống gỗ được chuẩn bị để làm nhà thờ Trà Kê. Theo lời truyền khẩu, thân xác ngài thành tro nhưng còn quả tim được người bà con đem về chôn cất ở Quảng Nam [10].

Trà Kê là vùng núi cao hiểm trở, từ khi chiến tranh Việt Pháp xảy ra, nhà thờ bị đốt cháy, cha sở bị bắn chết, giáo dân di cư, chỉ còn lại số ít nên mọi sinh hoạt tôn giáo đều tập trung về Tịnh Sơn. Trà Kê – Cây Da lúc bấy giờ trở thành giáo họ của Tịnh Sơn và dần dần trở thành hoang phế.

Sau khi chiến tranh kết thúc, giáo dân dần dần hồi cư. Cha Phêrô Tuần Nguyễn Cao Hiên từ nhà thờ Củng Sơn tìm mọi cách vượt suối băng rừng đi đến Trà Kê thăm viếng, qui tụ, an ủi giáo dân. Năm 1989 nền nhà thờ Trà kê dần dần được dọn dẹp cỏ cây sau hơn 40 năm hoang phế và một nhà thờ tạm dài 9 m rộng 7m, cột kèo tre, vách đất thô, cửa ván gòn, nền gạch cù thô nhám gập ghềnh không chút ximăng, mái tôn hột mè rách cũ kĩ xen lẫn vài tấm tranh săng, nhà thờ được thành hình trong gian khó nhưng là niềm hoan hỉ của cha sở cũng như đoàn chiên. Những buổi kinh hôm thường nhật và thánh lễ hằng năm, rồi hằng tháng, rồi hằng tuần dần dần được cử hành tại nhà thờ nầy sau hơn 40 năm vắng lặng.

Đã đến lúc thuận lợi, năm 2002, cha Phêrô Nguyễn Cấp, cha sở Tịnh Sơn, khởi công xây dựng nhà thờ Trà Kê. Ngày 02/04/2003, Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn đã chủ sự thánh lễ tạ ơn khánh thành nhà thờ.

Hôm nay, ngày 27 tháng 5 năm 2009, Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn, Giám mục giáo phận Qui Nhơn bổ nhiệm cha Phanxicô Phạm Đình Triều, nguyên cha phó Tịnh Sơn, làm cha sở Trà Kê.

Hiện tình giáo xứ Trà Kê (năm 2009) :

 

STT

GIÁO HỌ

ĐỊA CHỈ

NHÀ THỜ,

NHÀ NGUYỆN

TÌNH HÌNH GIÁO DÂN

BỔN

MẠNG

XÂY

DỰNG

HIỆN TRẠNG

GIA ĐÌNH

GIÁO DÂN

1

Trà Kê

Sơn Hội,

 Sơn Hoà

2003

tốt

159

600

Thánh Giuse

2

Cà Lúi

Cà Lúi,

Sơn Hoà

9

32

——————————————

[1] M. 06/1927. p.58

[2] Theo Quyết định số 100/HĐBT ngày 30-9-1981 của Hội đồng Bộ trưởng phân chia một số xã, thị trấn của các huyện, theo đó xã Xuân Lộc được chia thành ba xã với tên gọi là Xuân Lộc, Xuân Bình và Xuân Hải. Theo sự phân chia đó, nhà thờ Gò Duối thuộc xã Xuân Bình.

[3] R.A.E d’Hiérocésarée, 1897

[4] Mm. 9/1918, p.125

6. R.A.E. 1885. Mgr. Van Camelbecke

[6] Fiche individuelle de Wendling

[7] Mm. No.77/1911, p.103

[8] Mm. 1920,  p.66,  Vùng Phú Yên

[9] Mm.4/1944, p.01

[10] Cha Dẫn quê ở Đất Sét, Khánh Hoà

—————————————————————

Linh mục : FX Phạm đình Triều
Địa chỉ    :     Nhà thờ Trà Kê, Sơn Hội, Sơn Hòa, Phú Yên
Điện thoại    :    057-3606686;0914180822
Email    :    fxdinhtrieu@yahoo.com

TIN LIÊN QUAN