Lịch thường niên
March 2010
M T W T F S S
« Oct    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
Cầu nguyện cùng chân phước

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết yêu mến Chúa một cách khiêm nhường như Thầy giảng Anrê Phú yên, lấy tình yêu đáp lại tình yêu, đem sự sống đáp đền sự sống mà trung thành với Chúa đến cùng.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin đặt các việc tông đồ của chúng con dưới sự bảo trợ của Thầy Anrê Phú yên. Xin Chúa hãy tỏ vinh quang Chúa trên tôi tớ Ngài, và chúc lành cho mọi công việc chúng con đang làm được thành tựu như Ý Chúa muốn.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.

Archive for the ‘Tiến trình phong thánh’ Category

Bản tường trình về cuộc tử đạo của thầy Anrê

Tường trình về cuộc tử đạo vinh quang của Thầy giảng Anrê do linh mục Alexandre de Rhodes, SJ. (1-8-1644)

Mặc dầu chúng tôi hết sức khẩn khoản và dùng mọi lý lẽ trình với Quan Nghè Bộ, nhưng không thể nào làm cho quan tha mạng cho thày giảng Anrê vinh hiển. Thực vậy, Quan Nghè Bộ phàn nàn về các câu trả lời rất thẳng thắn của Thày giảng và nói: “Anh ta thật bạo gan khi trả lời với tôi rằng anh là Kitô hữu và tôn thờ Chúa Tể Trời Đất, và vì thế, anh sẵn sàng hiến mạng sống và chấp nhận mọi hình phạt người ta muốn ra cho anh! Vậy, Quan Nghè Bộ nói tiếp, vì anh điên dại đến độ nói năng như thế, nên anh phải chết”.

Bấy giờ chúng tôi thấy rằng, dù có vận động thế nào đi nữa để kéo dài cuộc sống trần thế của thày Anrê tốt lành này, thì đều là vô ích, bởi vì Chúa sớm ban cho thầy cuộc sống đời đời với vinh quang sung mãn của ngài; và chúng tôi có thể nói về thày rằng: “được nên hoàn thiện chỉ trong một thời gian ngắn, thì kể như thày đã hoàn tất một sự nghiệp lâu dài; quả thực linh hồn thày được Chúa chấp nhận” (Kn 4, 13-14)

Vậy chúng tôi đi đến nhà tù nơi thày bị giam giữ; tôi chúc mừng thày vì số phận cao cả dành cho thày, nhưng thày hết sức từ chối không chấp nhận lời chúc mừng đó và nói rằng người ta phải cầu nguyện cho thày để thày được Chúa ban lòng trung thành và biết ơn Chúa cho đến chết, lấy tình yêu đáp trả tình yêu. Và khi tôi hỏi thày xem có điều gì làm cho thày phải đau lòng, thày trả lời rằng thày không có điều gì phải hối tiếc cả, và tâm hồn thày rất hài lòng đến nỗi lòng ngực như nổ tung ra vì vui sướng. Và thày làm chứng cho những lời nói đó qua sự thanh thản của một nét mặt như thiên thần và nói rằng Thánh Thần Thiên Chúa ở trong linh hồn này của Thiên CHúa, đang biểu lộ ra cách nhãn tiền. Và vì thế, mắt đẫm lệ, họ xin thày cầu nguyện cho họ.

Dân chúng đến thật đông, cả Kitô hữu lẫn người lương. Đặc biệt những người lương này thật ngỡ ngàng khi thấy mọt việ chưa từng có trong xứ sở của họ : có người muốn chết vì Đạo và vì chân lý; đó là hoa quả đầu mùa của vùng đất này, và điều này càng quý hơn nữa, đến nỗi cả những người lương cũng khóc lên trước cảnh tượng ấy.

Vào lúc 5 giờ chiều, người ta điệu thày ra pháp trường, hay nói đúng hơn là dẫn đến nơi lãnh triều thiên tử đạo vinh quang. Tâm hồn mọi người cảm thấy se lại khi thấy nét mặt thanh thản của thày trong lúc bước đi, và bước chân của thày nhanh nhẹn đến nỗi chúng tôi phải chạy theo và vất vả lắm mới đuổi kịp thày.

Thày bước đi giữa toán lính, người thì mang giáo, người khác mang đao; và trên đường đi, thày Anrê phúc lộc lên tiếng dạy dỗ họ và chỉ cho họ con đường về Quê Trời. Tới nơi xử hồng phúc, thày Anrê tốt lành quì ngay gối xuống ; thày chào từ giã các tín hữu, đồng thời khuyên bảo họ  hãy trung thành với Thiên Chúa và tín thác trong niềm tin, “để bảo toàn tình bạn với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng và cho tới muôn đời”; đó cũng là những lời thày lập đi lập lại nhiều lần. Và tại nơi xử, lính tháo gông cùm cổ thày và trói tay thày lại; một người trong bọn lính cầm giáo đâm một nhát từ đàng sau hông trái xuyên qua tới bên kia, trong khi vị tử đạo vinh quang kêu cầu Vị Chỉ Huy của mình là Chúa Giêsu Kitô. Khi thấy thày Anrê dũng cảm, bất khuất, chưa ngã gục vì nhát dao thứ nhất, chính người lính ấy đã bồi thêm cho thày nhát thứ hai, rồi nhát thứ ba, và các nhát giáo này xé tan phần lớn ngực của thày trong khi thày Anrê trung tín luôn mạnh mẽ kêu cầu Tên cực trọng Chúa Giêsu. Và khi đầu thày hơi ngả về bên phải, một tên lý hình khác, vớ hai nhát dao chém đứt cổ của thày, làm cho vị tử đạo diễm phúc ngã xuống về bên phải như một khúc cây, trong khi Tên cực thánh Giêsu còn vọng vang nơi cổ họng bị đâm thâu qua, máu vọt ra bên ngòai. Và thế là kết thúc cuộc tử đạo, vinh hiển biết bao, linh hồn diễm phúc này, được tiếp đón vào vinh quang đời đời.

Trích bài tường thuật cuả Cha Alexandre de Rhodes, SJ. Nhân chứng tại chổ của cuộc tử đạo, được viết ra ngày 1 tháng 8 năm 164, tức là 5 ngày sau kh I thày Anrê chịu tử đạo : Tài liệu lưu trữ tại Thư  viện Ajuda, bọ sưu tập Dòng Tên tại Á Châu, cuốn 49/V/13, tờ 218v.-223.

Thầy giảng Anrê Phú yên, vị tử đạo tiên khởi của nước Việt Nam

Lm. Phaolo Molinari S.J  (Thỉnh ngyện viên án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê)

Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng.

Ba thế kỷ rưỡi trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức về thầy vẫn không suy giảm; trái lại, tấm gương của Thầy Anrê vẫn là một nguồn mạch nâng đỡ và khích lệ đích thực cho các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam, giúp đỡ họ sống phù hợp và trung thành với đức tin, mặc dù đất nước phải trải qua nhiều thăng trầm phức tạp và khó khăn.

Thực vậy, nếu để ý tới lịch sử sóng gió tại vùng địa lý này, một miền hồi thế kỷ XVII được gọi là Đàng Trong (Cocincina), người ta có thể hiểu tại sao khuôn mặt Thầy Anrê đã và vẫn còn là điểm tham chiếu có giá trị quan trọng: thực vậy, Kitô giáo được phổ biến rộng rãi, ăn rễ sâu và tiếp tục sinh động tại Việt Nam chính là nhờ công lao và hoạt động của bao nhiêu thế hệ thầy giảng, nối tiếp nhau qua các thế kỷ, trong việc phụng vụ Chúa Kitô và Tin Mừng, cả khi các thừa sai bị trục xuất và các linh mục bản xứ không thể thi hành sứ vụ vì những luật bách hại đạo.

Sự hiện diện và hoạt động của các thầy giảng tại Việt Nam có liên hệ tới công trình truyền giáo của một tu sĩ dòng Tên nổi tiếng là cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)(1). Công trình của cha đối với Việt Nam cũng như công trình của cha Matteo Ricci đối với Trung Hoa, và cha Roberto de Nobili đối với Ấn Độ. Cha Đắc Lộ là một trong những vị thừa sai đã biết tạo điều kiện, và hơn thế nữa, đã mang lại cho Việt Nam một trong những đóng góp quan trọng về văn hóa: chỉ cần nhắc đến sự kiện cha Đắc Lộ đã soạn cuốn từ điển đầu tiên về ngôn ngữ đựợc sử dụng tại Việt Nam và phát triển hệ thống chữ viết ngày nay là chữ quốc ngữ.

Chính cha Đắc Lộ là người đã thấy rõ rằng có được các linh mục một cách trường kỳ là một điều rất khó đối với Việt Nam, vì thế, cha đã quyết định khởi xướng và thành lập Hội các thầy giảng, gọi là :Nhà Đức Chúa Trời, trong đó các thành viên quyết tâm, bằng lời hứa chính thức và công khai (một lời thề), trọn đời phụng sự Giáo Hội qua việc giúp đỡ các linh mục và truyền bá Tin Mừng.

số các nguồn sử liệu nói về cuộc đời của Thầy Giảng Anrê trước khi Thầy bị bắt ngày 25-6-1644 và chịu tử đạo sau đó, có hai bản Tường Trình do cha Đắc Lộ viết và được coi là có giá trị nhất. Không nên ngạc nhiên về điều này, vì chính cha Đắc Lộ là người đã biết Thầy Anrê từ lâu và thân thiết hơn bất kỳ người nào khác kể lại chứng từ về thanh niên Việt Nam này.

Những gì chúng ta biết được qua cha Đắc Lộ về Thầy Anrê, về cuộc sống đạo của Thầy trước khi chịu tử đạo, cũng như chính cuộc hành trình Thầy phải chịu, cũng như được xác nhận qua các lời cung khai của những người làm chứng trong cuộc Điều Tra theo giáo luật, diễn ra tại Macao từ ngày 16 tháng 12 năm 1644 đến ngày 13 tháng giêng năm 1645, tức là không đầy sáu tháng sau khi vị Tôi Tớ Chúa bị sát hại. Vì thế, đó là những tin tức đầu tay và hơn thế nữa, rất gần với thời gian Thầy Anrê sống và chịu tử đạo.

Bản Tường Trình thứ nhất của cha Đắc Lộ, ngắn hơn bản thứ hai, đề ngày 1 tháng 8 năm 1644, nghĩa là 5 ngày sau khi Thầy Anrê bị sát hại; bản đó do nhà truyền giáo thời danh soạn ra sau khi đích thân chứng kiến tất cả các biến cố: cầm tù, kết án tử hình và hành quyết Thầy Anrê. Vì vậy, đó là tài liệu cổ kính nhất chúng ta có được về tất cả những sự kiện xảy ra trong những ngày đau thương, 25 và 26 tháng 7 năm 1644. Cha Đắc Lộ giao bản Tường Trình này cho viên thuyền trưởng chiếc tàu Bồ Đào Nha sắp rời Đàng Trong để điMacao. Tàu tới đảo này ngày 13 tháng 8 năm 1644. Qua bản Tường Trình ấy, cha Đắc Lộ thuật lại cho các bề trên ở Macao những gì xảy ra trong công cuộc truyền giáo của cha và đồng thời xin các vị đón nhận di hài Thầy Anrê, mà vì lý do an ninh, cha đã cho chở trên chiếc tàu đó tới Macao (2).

Bản Tường Trình thứ hai, dài hơn và chi tiết hơn, được cha Đắc Lộ soạn sau khi trở về Châu Âu và được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng (3).

Về những gì liên quan tới các dữ kiện thu thập trong Công Vụ cuộc Điều Tra theo giáo luật ở Macao về cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê, cũng nên nhấn mạnh tới một số chi tiết đặc biệt liên quan tới cuộc bắt giam, cầm tù và kết án tử hình vị Tôi Tớ Chúa: các sự kiện này, xảy ra trong vòng 48 tiếng đồng hồ (ngày 25 và 26-7-1644), và không diễn ra kín đáo, trái lại rất công khai. Vì thế, nhiều người đã chứng kiến những sự kiện ấy, nên họ có thể và trong thực tế, họ đã kể lại những tuyên bố chính xác và chi tiết; các chứng từ ấy không thể chê trách được điều gì xét về phương diện pháp lý và lịch sử, do đó chúng rất có giá trị.

Đó là 23 bản cung khai có tuyên thệ được Tòa Án của Giáo Hội ở Macao thu thập: Công Vụ của cuộc Điều Tra này được soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, và theo thói quen của Bộ đặc trách về các án phong thánh, các văn kiện ấy phải được chuyển dịch.

Trong số tất cả các bản cung khai ấy, cần ghi nhận có 7 bản do những chứng nhân tận mắt kể lại, tức là những người đã đích thân chứng kiến không những điều đã xảy ra trước hoặc sau cuộc hành quyết vị Tôi Tớ Chúa, nhưng nhất là chính cuộc hành quyết.

Các bản cung khai khác do 16 nhân chứng gồm những thương gia, thủy thủ, binh sĩ, đến Hội An (Faifo) trên chiếc tàu do thuyền trưởng João de Rezende de Figueiroa điều khiển. Vì thế, họ là những người gần kề nơi hành quyết Thầy Anrê, và do đó, họ biết được cuộc hành quyết do một số nhân chứng tận mắt, và điều xảy ra không phải từ lâu, nhưng chỉ mới vài tiếng đồng hồ sau các biến cố đau thương. Trong số những người đã chứng kiến các biến cố ấy, hiển nhiên là có nhiều người khác, dân chúng địa phương, nhưng vì lý do ngôn ngữ, nên họ không được triệu đến để làm chứng trong Cuộc Điều Tra, xét vì Cuộc Điều Tra này do những nhân vật người Bồ thi hành.

Ngoài những điều được thu thập và ghi nhận trong Công Vụ cuộc Điều Tra theo giáo luật, còn có hai bản cung khai ngoài cuộc điều tra, có chứng thực hẳn hoi, do một khách thương người Ý tên là Orazio Massa, và một người Việt Nam, Louis Đuôn (Duón), hai người đã chứng kiến tận mắt cuộc tử đạo của Thầy Anrê. Nhưng họ không có mặt ở Macao khi diễn ra cuộc Điều Tra và vì thế, họ không thể được triệu tới để cung khai tại Tòa.

Những tài liệu phong phú về cuộc bắt giam, cầm tù, lên án tử hình và hành quyết Thầy Anrê, cũng như về lòng kiên trung trong đức tin của vị tử đạo, quả là một điều hiếm có, nếu như không muốn nói là độc nhất vô nhị, trong việc thu nhập tài liệu về các án phong các vị Tử Đạo: chỉ có một số rất ít trường hợp trong đó các chứng nhân tận mắt, sau khi chứng kiến cuộc tử đạo của một người, cung khai chính thức theo đúng qui luật về những gì họ thấy và nghe được.

***

Thầy Giảng Anrê, gốc tỉnh RanRan (Phú Yên), là con út của một phụ nữ tên thánh là Gioanna. Tuy góa bụa nhưng bà giáo dục con cái với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Anrê là một cậu bé mảnh khảnh, nhưng tư chất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn hướng chiều về sự thiện. Do lời năn nỉ của bà mẹ, cha Đắc Lộ, vị linh mục thừa sai dòng Tên nổi tiếng, đã nhận cậu Anrê vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và chẳng bao lâu trổi vượt các bạn đồng môn.

Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với mẹ ba năm trước khi bà qua đời, tức là năm 1641, khi Anrê được 15 tuổi. Anrê sinh năm 1625 (hay 1626), không rõ ngày tháng, và lúc chịu chết năm 1644, Thầy trạc độ 19 hay 20 tuổi.

Theo các bản Tường Trình của cha Đắc Lộ, một năm sau khi chịu phép Rửa Tội, tức là năm 1642, Anrê được cha Đắc Lộ nhận vào nhóm cộng sự viên thân tín của ngài, và sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê bắt đầu thi hành công tác thầy giảng.

Về tầm quan trọng và sự nghiêm chỉnh của nhóm thầy giảng này, chúng ta có những tin tức rất chính xác, do chính cha Đắc Lộ cung cấp trong một tài liệu ngài gửi cho các bề trên, để tường trình cho các vị về diễn tiến công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong từ tháng 7 năm 1642 cho đến tháng 7 năm 1643. Bên cạnh hai Kitô hữu trưởng thành tận tụy rao giảng Tin Mừng, còn có một nhóm những người trẻ hơn, theo gương các vị đứng tuổi, cũng tuyên thệ công khai tại nhà thờ là sẽ cộng tác vào việc cứu vớt các linh hồn, dưới sự hướng dẫn của các thừa sai hoặc những vị do các ngài chỉ định (4).

Trong số những người trẻ ấy có Thầy Anrê: theo tất cả các văn kiện, và chứng từ đầu tay chúng ta có được, Thầy là một thanh niên đã được Chúa Giêsu Kitô chinh phục, và đáp lại tình yêu Chúa, Thầy tận hiến cho Chúa, và qua đó, thực hành bước tiến căn bản của việc bước theo Chúa Kitô (sepuela Christi) một cách chân thực, hiểu theo nghĩa mạnh nhất của từ này.

Trong nhóm các thầy giảng, Thầy Anrê là nhân vật đứng thứ hai, sau một số thầy đã đứng tuổi; nhưng qua chứng từ của cuộc Điều Tra, người ta biết Thầy Anrê thi hành một công tác quan trọng hơn trong Hội các tín hữu Kitô dấn thân như thế.

Như ta đã thấy rõ qua những biến cố đưa tới cuộc tử đạo của Thầy Anrê, điều hiển nhiên là Thầy đã nhập tâm những nguyên tắc hướng dẫn hoạt động của các thầy giảng và sống các nguyên tắc ấy một cách tận tình.

Khi để ý tới những điều đó, ta sẽ không ngạc nhiên khi đọc thấy một số nhân chứng kể lại trong cuộc Điều Tra về sự tử đạo của Thầy Anrê. Một số nhân chứng ấy đã ba lần gặp Thầy Anrê trong nhà của cha Đắc Lộ, nhân dịp họ du hành đến Đàng Trong; vì thế, họ có thể quan sát cách thức Thầy phục vụ cộng đoàn ở Hội An; lòng nhiệt thành xả thân của Thầy, với tất cả lòng trung thành và hăng say, trong việc giảng dạy đức tin Kitô cũng như trong việc cử hành phụng tự của nhóm các tín hữu. Rồi chính Thầy cũng được nhiều người biết đến như một tín hữu Kitô siêng năng lãnh nhận bí tích Thống Hối và Thánh Thể.

Vì thế, ta có thể và phải kết luận rằng lòng hăng say của Thầy Anrê sống trọn quyết tâm khi chịu phép Rửa đã chuẩn bị cho Thầy can đảm đương đầu với cuộc tử đạo và ngoan ngoãn đón nhận ơn tử đạo Thiên Chúa rộng ban cho Thầy.

***

Dựa trên những tài liệu phong phú đã nói trên đây, chúng ta biết rõ diễn tiến và sự liên kết giữa các biến cố có liên quan trực tiếp tới những ngày cuối cùng của Thầy Giảng Anrê và cái chết anh dũng của Thầy vào ngày 26-7-1644 (5).

Trước cuối tháng 7 năm 1644, Quan Nghè Bộ đã trở lại tỉnh nơi Thầy Giảng Anrê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kitô trong nước, vì thế Quan quyết định hành động trước tiên là chống lại các thầy giảng.

Cha Đắc Lộ, khi biết Quan trở về dinh, nhưng không hề hay biết ý định của Quan, nên tới thăm Quan vì xã giao và để củng cố những quan hệ tốt đẹp đã có trước đó.

Sau khi cho Thầy Anrê được ở lại nhà để săn sóc 4 bệnh nhân tại đó, cha Đắc Lộ xuống thuyền đến dinh Quan Nghè Bộ. Khi đến gần, cha gặp khách thương người Ý Orazio Massa. Nét mặt rất lo âu, ông cho cha Đắc Lộ biết: Quan cùng với các thẩm phán khác, đang âm mưu toan chống lại cha và các tín hữu Kitô, và ông xin cha hãy ẩn tránh, để đừng diễn ra điều đã xảy ra hôm trước cho thầy giảng già, cũng tên thánh là Anrê, thầy ấy đã bị bắt và đang bị cầm tù.

Cha Đắc Lộ, sau khi ra lệnh cho những người tháp tùng hãy mau lẹ trở về, quyết định đến chào thăm Quan và thương thảo của ông. Nhưng Quan cho cha biết rằng chúa Đàng Trong rất giận dữ khi thấy vì cha mà nhiều dân bản xứ theo đạo Kitô. Vì thế cha phải bỏ xứ Đàng Trong để trở về Macao và không được phép dạy giáo lý cho dân bản xứ nữa; còn các tín hữu theo đạo thì bị trừng phạt rất nặng nề.

Thấy rằng thảo luận với Quan từ nay chỉ mất thời giờ, nên cha Đắc Lộ rời dinh Quan Nghè Bộ, đi thẳng xuống nhà tù nơi giam giữ một thầy giảng già 63 tuổi tên là Anrê, mới bị bắt hai ngày trước đó. Cha muốn ở bên cạnh và nâng đỡ thầy trong cảnh ngục tù, thân phận mà thầy chấp nhận trong thanh thản và vui tươi vì lòng yêu mến Chúa Kitô.

Trong khi ấy, một toán lính khác được Quan sai tới nhà cha Đắc Lộ để lùng bắt một thầy giảng khác tên là Ignatio. Nhưng thầy ignatio đã đi làm việc tông đồ trong một thời gian ngắn.

Khi lính ập vào nhà, họ chỉ tìm thấy Thầy Anrê trẻ, để khỏi về dinh Quan Bộ tay không, lính đánh đập Thầy Anrê, trói thầy lại, rồi giải xuống thuyền đem về dinh Quan trấn thủ. Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, Thầy được dẫn tới trước mặt Quan. Lính thưa với Quan rằng họ không tìm thấy thầy Ignatio, nhưng đã bắt được một thầy giảng khác giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kitô và khuyến khích họ theo đạo (6).

Nghe vậy Quan tìm nhiều cách làm cho Thầy Anrê “từ bỏ cái đạo điên rồ đó và bỏ lòng tin”.

“Nhưng thanh niên can trường ấy trả lời Quan rằng mình là Kitô hữu, và rất sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không từ bỏ đạo mình tuyên xưng: vậy xin Quan cứ tùy ý chuẩn bị các hình cụ, tôi vui lòng đón nhận, với xác tín rằng, vì chính nghĩa, càng chịu khổ đau chừng nào thì càng chết vinh quang chừng ấy”. (7)

Tức giận vì sự bất khuất của Thầy Anrê không hề sợ hãi trước những lời đe dọa, Quan truyền đóng gông (8) và giải Thầy vào ngục, cùng nơi giam giữ thầy Anrê già.

Cha Đắc Lộ cho chúng ta biết tâm trạng của hai thầy giảng khi viết rằng: “Thật không thể giải thích được niềm vui của hai tù nhân này lớn lao dường nào khi thấy mình được liên kết với nhau, được vinh dự mang gánh nặng của Thập Giá ấy vì niềm tin nơi Chúa Kitô: những lời chúc tụng họ dâng lên Thiên Chúa vì ân huệ ấy, những cuộc nói chuyện đầy lòng yêu mến, qua đó, họ khích lệ nhau trong mong ước và nhắn nhủ nhau sẵn sàng cho trận chiến tương lai, với những tâm tình sùng mộ khác tương tự như vậy, người ta có thể tưởng tượng dễ hơn là giải thích” (9).

Cha Đắc Lộ và một vài thương gia Bồ Đào Nha tới nhà giam hai tù nhân: Thầy Anrê trẻ thanh thản và vui mừng vì chịu khổ đau vì Chúa Kitô đến độ những người đến thăm Thầy bịn rịn không rời Thầy được, và nước mắt tràn bờ mi, họ xin Thầy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện. Thấy vậy, Thầy tự cười nhạo mình và xin họ cầu nguyện cho Thầy, để Chúa ban cho Thầy ơn trung thành với Chúa cho đến chết, “dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu vô biên của Chúa, Đấng đã dâng hiến mạng sống vì loài người…những lời Thầy lặp lại cho đến chết khi trút hơi thở cuối cùng là:Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống”và Thầy nói điều đó với tất cả lòng yêu mến làm cho Thầy cảm động rơi lệ” (10).

Sáng hôm sau, 26 tháng 7 năm 1644, hai tín hữu Kitô cùng tên Anrê, Anrê già 63 tuổi và Anrê trẻ, cổ mang gông, bị dẫn qua các đường phố đông người qua lại nhất trong thành, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh Quan trấn thủ để bị tra hỏi công kha. Quan trấn triệu tập một vài Quan khác, lôi kéo họ về phía mình và tuyên án tử cho Thầy Giảng Anrê trẻ, rồi ra lệnh dẫn Thầy về ngục thất. Còn thầy Anrê già thì được tha vì lý do tuổi tác nhờ lời xin của cha Đắc Lộ và các thương gia Bồ Đào Nha.

Vào khoảng 5 giờ chiều, một viên chỉ huy cùng với 30 người lính vào nhà tù, nơi vị Tôi Tớ Chúa bị giam giữ, và ra lệnh cho Thầy phải đi theo tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người hiện diện trong tù, Thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính vây chặt chung quanh và dẫn Thầy Anrê đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài thành. Cha Đắc Lộ, nhiều Kitô hữu Bồ Đào Nha và Việt Nam cũng như nhiều người lương đã đi theo và chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa.

Đến nơi hành hình, Thầy Anrê quì xuống. Quân lính vây quanh tứ phía, họ tháo gông cho Thầy và trói hai tay Thầy Iại. Trong khi đó, theo thói quen tại đây, cha Đắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới người Thầy Anrê để hứng lấy máu Thầy, nhưng Thầy Anrê không muốn nhận điều ấy, Thầy muốn máu mình rơi xuống đất, như trường hợp Máu Cực Trọng Chúa kitô đổ ra. Cha Đắc Lộ tôn trọng quyết định của Thầy Anrê và quì xuống bên cạnh Thầy. Trong khi đó, Thầy Anrê nhắn nhủ các Kitô hữu hiện diện hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của Thầy, và hãy giúp lời cầu cho Thầy được trung thành tới cùng.

Cuộc hành quyết Thầy Anrê được thi hành bằng mấy nhát dao đâm thấu cạnh sườn bên trái, và sau cùng khi một người lính sắp dùng đao chém đầu, Thầy lớn tiếng kêu lênGiêsu.

Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trung trong việc chấp nhận dâng hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô.

Sau khi cuộc hành quyết hoàn tất, cha Đắc Lộ, người đã chứng kiến tất cả diễn tiến vụ hành hình kinh khiếp ấy, xin được thi hài của Thầy Anrê và đưa xuống tàu đưa sang Macao và an táng tại đây ngày 15 tháng 8 năm 1644.

Mặc dù tất cả những thăng trầm xảy ra tại Việt Nam từ ngày đó đến nay, các tín hữu Công Giáo Việt Nam không bao giờ quên Thầy Giảng Anrê, và tiếp tục coi Thầy là vị tử đạo đầu tiên của đất nước họ và cầu nguyện, xin Thầy chuyển cầu cho họ nơi tòa Chúa để được sức mạnh can đảm sống phù hợp với đức tin và trung thành với ơn gọi Chúa Kitô.

***

Ý thức về lòng mộ mến sinh động hơn bao giờ hết và đã có từ lâu của các tín hữu đối với Thầy Giảng Anrê tử đạo, các Giám Mục Việt Nam, khi về Roma dự Công Đồng chung Vatican 2, đã xin Đức Thánh Cha Phaolô VI đẩy mạnh án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê; các vị bày tỏ xác tín rằng việc tôn phong này là một trong những phương thế hữu hiệu nhất để phát triển nơi các tín hữu lòng gắn bó sâu xa với Giáo Hội. Các Giám Mục Việt Nam cũng nhấn mạnh sự kiện Thầy Giảng Anrê là một thah niên Công Giáo, từ 16 tuổi, đã dâng hiến cuộc sống để giúp các linh mục trong việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô tại Việt Nam; các Giám Mục nêu bật điều này: tấm gương của Thầy Giảng Anrê, qua thái độ bình thản và cương quyết chấp nhận tử đạo, là một trợ lực mạnh mẽ cho những người giống như Thầy, đang chịu đau khổ để bảo vệ đức tin và trung thành với Chúa Kitô và với Giáo Hội.

Do sự can thiệp trên đây của các Giám Mục Việt Nam, Văn Phòng Thỉnh Nguyện Viên án phong Thầy Giảng Anrê đã quyết tâm thực hiện các cuộc nghiên cứu cần thiết để đẩy mạnh án phong. Rồi vào năm 1997, Văn Phòng đã được Bộ Phong Thánh nhìn nhận Công Vụ cuộc điều tra diễn ra tại Macao trong những năm 1644-1645; sau khi bổ túc các dữ kiện và tin tức mà Công Vụ này mang lại, cùng với thành quả các cuộc nghiên cứu lịch sử thực hiện ở Âu Châu và Á Châu; Văn Phòng Thỉnh Nguyện viên đã soạn Tập Hồ Sơ về cuộc tử đạo, gồm 2 cuốn, và đã đệ trình Bộ Phong Thánh để xin cứu xét. Trước hết, các Vị Cố Vấn Sử Học, rồi với các vị Cố Vấn Thần Học đều đồng thanh bày tỏ ưng thuận và nói rằng bằng chứng cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê thật là rõ ràng.

Phán quyết chung kết này cũng được các Hồng Y và Giám Mục thành viên của Bộ Phong Thánh đồng ý, và Đức Thánh Cha, sau khi được vị Tổng trưởng Bộ Phong Thánh thông báo đầy đủ về kết quả tích cực, đã cho công bố Sắc Lệnh về cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê, và ngài quyết định cho tiến hành lễ phong chân phước tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 5 tháng 3 năm 2000./.


CHÚ THÍCH:

  1. Cha Đắc Lộ, dòng Tên, sinh tại Avignon bên Pháp năm 1591 và gia nhập dòng ở Roma. Được gửi đi truyền giáo tại Viễn Đông, sau khi sống 3 năm tại Ân Độ  và 9 tháng ở Malacca, cha tới Macao năm 1623, bắt đầu học tiếng Nhật để chuẩn bị hoạt động truyền giáo ở Nhật Bản; nhưng rồi cha được bề trên gửi tới phần đất ngày nay gọi là Việt Nam.
  2. Relação do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchina, alenceado, e dogolado em Cachão aos 26 Julho de 1644. Tendo de idade dezanove anos, nguyên văn tiếng Bồ Đào Nha của cha Đắc Lộ, ghi ngày 1.8.1644 tại xứ Đàng Trong: Ms. Marid, Real Acedemia de la Historia, Jesuitas, leg.21 bis, fasc.17, foll. 228-234v (originale?); AHSI, JAP./SIN: 71, foll.262-265; Lisbona, Biblioteca da Ajuda, Jesuistas na Asia, Vol.40/V/13, foll.218v-223.

Relatione del glorioso Martirio di Andrea Catechista Protomartire della Cocinchina, patito alli 26 Luglio 1644, AHSI, JAP./SIN. 69,foll.25-38v.

  1. Martyrium Andreae Cathechistae qui primus in Regno Cocincinae pro Christi fide sanguine fudit a P. Alexandro DE RHODES Societas Jesu descriptum, Ms SHSI, JAP./SIN. 70, FOLL.127-138.

[Alexandre de Rhodes, S.J.], Relatione della morte di Andrea Catechista che primo de Christiani nel regno di Cocincina è stato ucciso dagl+infedeli in odio della fede, alli 26 di Luglio 1644, descritta dal padre Alessandro de Rhodes della Compagnia di Giesu, Roma, per gli Heredi del Corbellitti, 1652, 3 f.+42p. +1 f.[Roma, APSI,e Bibl. Nazioanle Centrale Vittorio Emmanuele II, coll.14.26.E.2; Lisbona, Bibl. Nacional, coll. R14164 V]

[Alexandre de Rhodes, S.J.] La glorieuse mort d+André catéchiste de la Cochinchine, qui a le primier versé son sang pour la querelle de Jesus-Christ, en cette histoire, Paris, Sébastien et Gabriel Cramoisy, 1653, 122p.

[Alexandre de Rhodes, S.J.], Relação de morte do carequista André, proto-martir de Cochinchina, [dịch ra tiếng Bồ từ văn bản tiếng Ý ấn hành ở Roma năm 1652, của Miguel Serras Pereiral], Macao, Tipog. da Missão, 1978, 27pp., e in Boletim Eclesiástico da Diocese de Macau, n.76,1978, pp.237-262.

  1. Cf. Missão de Cochinchina desde fim de 1642 ate o fim de 1643, thủ bút của cha Đắc Lộ S.J., đề ngày 15.11.1643 tại Macao, ở Văn Khố sử học của dòng Tên ở Roma, coll.Jap./Sin. 71,foll.224-237.
  1. Xem Congregatio de Causis Sanctorum, Prot. N.1022, Danagen. Olim Cocincin. Beatificationis seu Declaratioinis Martyrii Servi Dei Andreae, viri laici et catechistae, Proto-Martyris de Vietnam, Positio super Martyrio, 2 coll., Roma 1998.
  1. Tường Trình thứ hai, Positio, vol.I, p.92.
  1. Ivi.
  1. Chính cha Đắc Lộ đã mô tả chiếc gông này (cf.positio p.91). Gông hai cây gỗ tròn, mỗi cây dài khoảng 12 gang tay, chúng được xếp đặt như một cái thang với bốn thang ngang nhỏ, mỗi đầu cây gỗ tròn có hai thang ngang nối vào nhau, trong khi hai thang khác được đặt ở giữa gông cách đều nhau kẹp vào cổ tù nhân.
  1. Ivi, p.93
  1. Cf. Positio, p.126

—————-

Lm. Giuse Trần Đức Anh O.P chuyển ý

Những lời và thái độ đáng ghi nhớ qua các nhân chứng

Lm. Dương Hữu Nhân, OMI

I/ Trích Biên Bản cuộc điều tra cấp giáo phận (Macao, 12- 1644 đến 2- 1645).

Nhân chứng I : João de Rezende de Figueiroa

Tôi biết, – vì chính Quan Nghè Bộ đã nói điều đó với tôi-, rằng ông đã ra lệnh giam Thầy Anrê trong tù vì Thầy đã nói mình là Kitô hữu và Thầy sẵn sàng hiến mạng sống vì điều ấy, và Thầy đã lặp đi lặp lại điều đó 4 hoặc 5 lần. Chính Quan đã tái hỏi cung Thầy Anrê về Đạo mà Thầy tuyên xưng. Thầy Anrê trả lời rằng đó là Đạo Chúa Kitô, Thầy sẵn sàng chịu chết và chịu đau khổ vì Đạo, Thầy mong ước có nhiều mạng sống để dâng hiến tất cả vì Đạo mà Thầy tuyên xưng ; Quan rất phẫn nộ và giận dữ  vì Thầy Anrê đã trả lời ông như thế. Ông nói: “ Giả sử anh ta nói với tôi là anh ta phục vụ Cha(Đắc Lộ) vì mình nhà nghèo, để được bát cơm mà Cha ban cho, thì tôi đã thả anh ta ra rồi”; nhưng vì Thầy đã trả lời như thế, nên ông không thể tha mạng cho Thầy. Vì thế, Quan đã tuyên án tại Kẻ Chàm, và Thầy Anrê hân hoan chấp nhận. Chính tôi thấy Thầy Anrê và tôi đã nói chuyện với Thầy tại nơi giam giữ. Tôi làm chứng rằng Thầy rất hài lòng vì tin người ta mang tới cho Thầy về việc Thầy phải chết.

Khi lý hình tháo gỡ gông ra khỏi cổ, Thầy Anrê tuyên bố: “ Tôi chết rất sung sướng, bởi lẽ tôi hiến mạng sống vì Đấng đã ban mạng sống cho tôi; và tất cả mọi người nên biết rằng tôi không chết như một tên trộm, cũng không phải vì tội ác nào cả, nhưng chỉ vì tôi là Kitô hữu”.

… Một binh sĩ khác đến gần và chém đứt cổ, trong lúc Thầy kêu tên Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Và chính tôi đã nghe thấy ông Francisco de Azevedo và Antonio Mendes người Bồ Đào Nha nói rằng, cả sau khi cổ Thầy bị chém đứt, người ta vẫn nghe thấy danh Giêsu trong hơi thở vọt ra cùng với máu đào.

Nhân chứng II : Francisco de Azevedo Teixeira

Trước mặt Quan Nghè Bộ, Thầy trả lời: “ Tôi tuyên xưng Đạo Chúa Kitô; tôi là Thầy giảng của Cha Đắc Lộ, và tôi lo việc rửa tội cho người lương tại nước này, tôi là Kitô hữu từ nhiều năm nay, và tôi sẵn sàng hiến mạng sống vì Đạo Chúa Kitô mà tôi tuyên xưng”. Và Ông Nghè Bộ bảo Thầy hãy từ bỏ Đạo Chúa Kitô, Đạo mà Thầy gọi là đạo mới, rồi ông sẽ tha mạng cho Thầy, nhưng Thầy đáp: “ Tôi sẽ không làm điều như thế, và nếu Quan muốn giết tôi, tôi sẵn sàng trả bằng mạng sống món nợ của tôi đối với Thiên Chúa và là Đấng Tạo Thành tôi”.

Vị tử đạo vẫn hướng mặt lên trời, ngã về phía bên phải, miệng vẫn kêu tên Giêsu Maria nhiều lần; và khi Thầy còn ở trong tình trạng đó, một trong những người lính cầm đao, chém đứt cổ trong lúc vị tử đạo còn sống, và Thầy tiếp tục kêu tên cực trọng Giêsu Maria, và chính tôi thấy điều này: sau khi cổ Thầy bị chém lìa, người ta vẫn còn có thể nghe được tên Thánh Giêsu Maria, trong hơi thở vọt ra với máu.

Và ngoài ra, tôi tuyên bố rằng trước khi bị dẫn tới nơi tử đạo, trong lúc còn bị giam trong tù, Thầy Anrê đã nói với đông đảo tín hữu Kitô hiện diện: “ Anh chị em hãy can đảm lên và hãy kiên trì, đừng sợ thấy tôi phải chết. Tôi không chết vì một tội nào đã phạm, nhưng chính vì tôi là Kitô hữu, và vì tôi dạy Đạo Chúa Kitô. Và tôi trả bằng mạng sống món nợ của tôi đối với Chúa Giêsu”.

Trước lời nài nỉ (của Cha Đắc Lộ xin tha cho hai Anrê), quan trả lời rằng Anrê già(Ông trùm Anrê), vì đã cao tuổi, nên được ông tha mạng. Về phần Anrê kia (Thầy giảng Anrê), vì còn trẻ, mà lại trả lời quan một cách rất táo bạo và tự nhiên, rằng mình là Kitô hữu: “ Vì anh ta tuyên bố sẵn sàng chết ngàn lần cho Đạo, nên tôi sẽ kết án tử, và đó là điều chắc chắn, vì đây là lệnh của Chúa Thượng”.

Nhân chứng III : Antonio Pecanha de Mendonca

Trước mặt Quan Nghè Bộ, Thầy Anrê đã can đảm tuyên xưng nhiều lần rằng: “ Tôi là Kitô hữu, và tôi luôn sẵn sàng hiến mạng sống vì Đạo Chúa Kitô”.

… Bấy giờ một đao phủ khác, hay người lính, đến gần, tay cầm đao, và chém lìa cổ Thầy Anrê, trong khi Thầy luôn cương quyết và đầy lòng kiên trì, miệng luôn kêu tên Giêsu và Maria, cho đến khi người ta chém đầu Thầy. Và Thầy vẫn luôn nói rằng mình không chết vì là trộm cắp hay vì đã phạm một tội ác nào khác, nhưng chỉ vì mình là Kitô hữu. Thầy dùng tiếng Bản xứ để khuyên các tín hữu Kitô khác hãy vững tin, và đừng sợ vì cái chết của Thầy. Tất cả những điều đó, tôi đã nghe được, và những người hiện diện đã giải thích cho tôi điều đó.

Nhân chứng IV : Manoel da Fonseca

Tôi đã thấy Thầy ở trong một ngôi nhà tranh có lính  canh gác, và cổ đeo gông. Thực vậy, trước đó, Thầy đã trả lời với Quan Nghè Bộ: “ Tôi là Kitô hữu, và nếu vì điều này mà tôi đáng bị hình phạt nào, thì tôi sẵn sàng”.

Trong lúc ấy (khi hành quyết), Thấy Anrê quỳ xuống, mắt hướng về trời. Điều ấy tôi thấy tận mắt ; và tôi đã nghe những người đứng gần Thầy kể lại rằng Thầy đang kêu tên cực trọng Giêsu và Maria.

Bản án được thi hành, và được tuyên bố, chỉ vì lý do Thầy Anrê là Kitô hữu, chứ không phải vì Thầy đã phạm một tội ác nào. Và chính Thầy Anrê đã tuyên bố công khai điều đó, và cả tôi cũng đã nghe Thầy Anrê tuyên bố: “ Tôi chết vì là Kitô hữu, chứ không phải vì tội ác nào đã phạm”.

Nhân chứng V: Antonio Mendes

Thầy Anrê đã trả lời quan một cách rất can đảm: “Tôi là Kitô hữu, và tôi rất sẵn sàng hiến mạng vì Chúa Kitô”. Và lời tuyên xưng đức tin này đã làm cho quan nổi giận, ông giam Thầy vào tù với gông mang trên cổ.

Bản án này, Thầy Anrê chấp nhận với nét mặt hân hoan và tươi cười; Thầy nói: “Tôi rất mãn nguyện vì được trả món nợ của tôi đối với Đức Giêsu Chúa chúng ta”.

Trong lúc ấy (khi hành quyết), Thầy Anrê tiếp tục kêu tên cực trọng Giêsu và Maria; và khi Thầy ngã xuống đất về phía bên phải, một trong những người lính cầm đao chém đứt cổ Thầy; bấy giờ, để cho Thầy chết, nhóm lính rút lui. Và tôi tuyên bố rằng trước khi chịu chết, lúc đến pháp trường, Thầy Anrê nói với các tín hữu Kitô có mặt tại đó: “ Anh chị em đừng hối hận gì vì cái chết của tôi, bởi lẽ tôi không chết vì tội ác nào đã phạm, nhưng chính vì là Kitô hữu, và tất cả anh chị em hãy can đảm và kiên vững trong đức tin”.

Chính Quan Nghè Bộ cũng đã tuyên bố rằng Chúa Thượng truyền xử tử Thầy Anrê vì Thầy là Kitô hữu và đã siêng năng làm cho bao nhiêu người trở lại đạo, chứ không phải vì tội ác nào khác cả. Và Thầy Anrê tuyên bố cùng một điều đó trước khi chịu tử đạo, như tôi đã nói. Và chính tôi đã nghe được điều đó.

Nhân chứng VI : Domingos  Rodrigues

Lúc người ta muốn trói Thầy lại, Thầy nói: “ Xin đừng trói tôi, tôi là Kitô hữu và tôi không chối bỏ điều ấy, và vì thế tôi sẽ không chạy trốn đâu”.  Cũng vậy, tôi nghe những người Bồ Đào Nha nói rằng khi bị điệu tới Kẻ Chàm, trước mặt Quan Nghè Bộ, Thầy Anrê đã công khai tuyên bố trước mặt quan mình là Kitô hữu và sẵn sàng chịu mọi hình phạt vì điều ấy.

Và trong khi Thầy Anrê vẫn tiếp tục kêu tên cực trọng Giêsu và Maria… Thầy khuyên bảo những người hiện diện rằng: “ Tôi rất vui mừng và mãn nguyện được chết vì là Kitô hữu ; đây không phải là chết, nhưng là được sống đời đời, và nếu có ai trong anh chị em bị cùng số phận như vậy, thì hãy hết sức cảm tạ Thiên Chúa, và hãy kiên cường trong niềm tin nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng mà tôi cũng đang tuyên xưng đây”.

Thầy Anrê đã bị sát hại chỉ vì Thầy là Kitô hữu, chứ không phải vì một tội ác nào khác đã phạm ; đó là điều mà chính Thầy Anrê đã tuyên bố công khai, và Thầy cũng nói trước khi chịu chết: “ Tôi chết trong tư cách là Kitô hữu, chứ không phải vì tội ác nào cả”.

Nhân chứng VII : Agostinho da Silva

Khi (Quan Nghè Bộ) hỏi Thầy xem có phải là Kitô hữu không, Thầy can đảm tuyên xưng điều đó và nói: “ Tôi sẵn sàng nhận mọi hình phạt người ta muốn giáng cho tôi chỉ vì tôi là Kitô hữu”.

Tôi biết vì đã thấy rằng theo lệnh nhận được từ Chúa Thượng xứ Đàng Trong, Quan Nghè Bộ đã tuyên án tử hình cho Thầy Anrê vì Thầy là Kitô hữu; bấy giờ Thầy ở Kẻ

Chàm. Và bản án đó, khi Thầy Anrê biết được, Thầy vui mừng và tỏ cho thấy Thầy rất vui lòng chấp nhận.

Thầy khuyến khích và khuyên bảo các tín hữu Kitô khác hiện diện: “ Anh chị em đừng buồn vì cái chết của tôi, bởi lẽ tôi không chết vì một tội ác nào đã phạm, nhưng chính vì tôi là Kitô hữu; và anh chị em hãy kiên cường trong đức tin”.

Trong lúc, Thầy Anrê tiếp tục kêu tên cực trọng Giêsu và Maria.

Nhân chứng VIII : Antonio Fernandes

Thầy Anrê đã bị những ngọn giáo đâm thâu và bị chém cổ ; trong lúc ấy, Thầy vẫn luôn kiên trì tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu Kitô. Một sự kiện ai cũng biết là Thầy Anrê đã tuyên bố trước khi chịu chết: “ Tôi chết vì tôi là Kitô hữu, chứ không phải vì tội ác nào đã phạm”.

Nhân chứng XIV : Pero Pinto de Figueiredo

Trước mặt quan, Thầy đã can đảm tuyên xưng: “ Tôi là Kitô hữu, và lý do này tôi sẵn sàng hiến mạng sống vì Chúa Kitô”.

Thầy đã bị kết án tử hình chỉ vì là Kitô hữu, và vì đã can đảm tuyên xưng mình là Kitô hữu. Và chính tôi, tôi đã thấy rằng Thầy Anrê hài lòng và tuân phục ý Chúa, chấp nhận chết vì đức tin thánh và vì Đạo. Và tất cả những điều ấy, chính tôi đã thấy, vì tôi có mặt lúc đó, và tôi đã nói chuyện với Thầy Anrê trong nhà tù nơi Thầy bị giam giữ.

Thầy bị giết chết bằng những ngọn giáo và bị chém lìa cổ ; trong lúc ấy, Thầy Anrê tiếp tục kêu tên Giêsu và tuyên xưng niềm tin nơi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta cho đến khi chết ; và trước đó, Thầy đã khuyên bảo các tín hữu Kitô có mặt hãy kiên cường trong đức tin.

Nhân chứng XVII : João de Siqueira

Và trong khi Cha làm lễ, chính tôi đã thấy ba, bốn Thầy giảng hát bằng tiếng bản xứ vài bài thánh ca. Sau đó, người ta nói với tôi rằng một trong các Thầy ấy chính là Anrê.

Nhân chứng XVIII : Luis de Brito

Quan Nghè Bộ hỏi xem Thầy Anrê có phải là Kitô hữu không và Thầy can đảm đáp: “ Vâng, tôi là Kitô hữu và tôi sẵn sàng chết vì Đạo Chúa Kitô”.

Thầy đã bị một người lính dùng những nhát giáo đâm thâu qua và một người lính khác chém lìa cổ. Trong lúc ấy, Thầy tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta và khuyên bảo các tín hữu Kitô khác hãy kiên cường giữ vững đức tin.

Nhân chứng XIX : Cha Onofre Borges( Buergin) S.J

Thầy Anrê bị trói và bị đánh đập vì là Kitô hữu và đã giảng dạy Đạo Chúa Kitô. Và đạo này, Thầy đã can đảm tuyên xưng trước mặt Quan Nghè Bộ rằng: “ Tôi ở trong nhà Cha Đắc Lộ vì tôi là Kitô hữu, và để được học hỏi tường tận hơn về Đạo Chúa”.

Lý do là vì Thầy Anrê là Kitô hữu và Thầy đã can đảm tuyên xưng Đạo Chúa Kitô trước mặt quan.

Thầy quì xuống để chấp nhận cái chết. Thầy khuyên các tín hữu Kitô có mặt tại đó, đứng xung quanh Thầy, hãy trung thành với Thiên Chúa chúng ta: “ Anh chị em đừng thối lui trong đức tin mà anh chị em tuyên xưng chỉ vì anh chị em sắp thấy tôi bị xử tử”. Và trong tư thế đó, mắt hướng về trời và miệng không ngừng kêu tên Giêsu, Thầy muốn bảo tồn tình bạn và ân sủng của Chúa Giêsu cho đến hơi thở cuối cùng, khi một trong những người lính, cầm giáo, đâm sâu vào người Thầy từ bên trái ; rồi anh ta bồi thêm một cú thứ hai, Thầy ngã xuống đất, và một người lính khác cầm đao chém lìa cổ Thầy. Về phần tôi, tôi đã nghe nói như thế, và tôi cũng đã đọc được điều này trong bản tường thuật : cả sau khi cổ Thầy bị chém lìa, người ta vẫn còn nghe tên Giêsu được thốt lên ba lần trong hơi thở ra, cùng với máu vọt ra vì vết thương.

II/ Trích Bản Tường Trình  của Cha Đắc Lộ gửi cho các Bề trên ở Macao

Viết tại Hội An ngày 1.8.1644

Họ (những người lính) bắt đầu lật đổ bàn thờ và làm vung vãi đồ vật, Thầy Anrê xin họ bỏ đó, và Thầy gấp gọn mọi đồ vật, và xếp chúng ngăn nắp đâu vào đấy… Và lúc họ đang trói một trong những thanh niên của chúng tôi đang đau ốm, Thầy Anrê xin họ hãy tha cho người bệnh, và họ đồng ý dẫn một mình Thầy đi, tay bị trói lại. Đó là điều mà họ đã làm. Và trên đường đi, Thầy bắt đầu nói về đạo thánh chúng ta một cách can đảm, và chứng tỏ cho người ngoại thấy rằng không có con đường nào khác dẫn đến ơn cứu độ, một viên quan đi với họ nổi giận, và cho biết sẽ tìm một chiếc gông nặng hơn nữa để xiết vào cổ Thầy.

… Thầy được trình diện ngay với Quan Nghè Bộ. Và khi quan hỏi tại sao lại ở với Cha của người Bồ Đào Nha, thì Thầy trả lời là để học cho rành Đạo Chúa mà mình tuyên xưng.

… Và ông Nghè Bộ than phiền về nhưng câu trả lời rất thẳng thắn như thế, và nói rằng: “ Giả sử anh ta nói với tôi rằng mình là người nghèo và ở với Cha để có gì mà ăn, thì tôi đã tha thứ và thả anh ra. Nhưng trái lại, anh đã táo bạo trả lời tôi rằng anh là Kitô hữu, và thờ lạy Chúa trời đất, và không có gì trên trần gian làm cho anh từ bỏ đạo thánh anh đã theo, và vì thế anh sẵn sàng hiến mạng sống, chấp nhận mọi hình phạt người ta muốn giáng xuống cho anh ! Vì vậy, – Ông Nghè Bộ nói – vì anh ta điên đến độ ăn nói như thế, nên anh phải chết”; ông đã gọi là điên rồ sự Khôn Ngoan chân thực của Chúa Thánh Linh nói qua miệng Thầy.

… Tôi chúc mừng Thầy Anrê vì số phận rất cao cả Thầy đã được, và hôn tay chan Thầy, và cả cái gông nữa, hay đúng hơn là cái ách rất vinh hiển dùng làm xe đưa Thầy về trời, và Thầy luôn hết sức từ chối lời chúc mừng ấy và nói rằng mình chỉ là một người tội lỗi, cần lời cầu nguyện của người khác để Chúa thương ban cho mình ơn trung thành và biết ơn cho đến chết, lấy tình yêu đáp trả tình yêu.

Tới nơi xử hồng phúc, Thầy Anrê tốt lành quỳ ngay gối xuống; Thầy chào từ giã mọi tín hữu, đồng thời khuyên bảo họ hãy trung thành với Thiên Chúa và tín thác trong đức tin; và về phần Thầy, họ chẳng nên đau buồn làm chi, nhưng hãy cầu xin Chúa cho Thầy được trung thành đến cùng ( giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời) ; đó là chính những lời Thầy lặp đi lặp lại nhiều lần.

… Một người trong bọn lính cầm giáo đâm một nhát từ đàng sau hông trái xuyên qua tới bên kia, trong khi vị tử đạo vinh quang kêu cầu vị Chỉ Huy của mình là Chúa Giêsu Kitô. Khi thấy Thầy Anrê dũng cảm, bất khuất, chưa ngã gục vì nhát giáo thứ nhất, cũng người lính ấy bồi thêm cho Thầy nhát thứ hai, rồi nhát thứ ba, và các nhát giáo này xé tan phần lớn ngực của Thầy, trong khi Thầy Anrê trung tín luôn mạnh mẽ kêu cầu Tên cực trọng Chúa Giêsu. Và khi đầu Thầy hơi ngã về bên phải, một tên lý hình khác, với hai nhát đao chém đứt cổ của Thầy, làm cho vị tử đạo diễm phúc ngã xuống về bên phải như một khúc cây, trong khi Tên cực thánh Giêsu còn vọng vang nơi cổ họng bị đâm thâu qua, máu vọt ra bên ngoài.

Người ta cũng nhận xét  điều này : Thầy Anrê nhiệt thành chỉ nghĩ đến một điều : Cầu xin Chúa ban cho mình được ơn lấy tình yêu đáp trả tình yêu cho đến cùng; vì vậy, Chúa đã muốn rằng qua năm vết thương, Thầy cũng hiến mạng sống vì tình yêu Chúa, Đấng đã từng bày tỏ tình yêu vô biên đối với chúng ta qua năm vết thương cực trọng mà Ngài đã muốn chúng được ghi khắc trong thân xác cực thánh của Ngài.

Lm. Giuse Trần Đức Anh, OP, chuyển ngữ

Sống đức tin, đức cậy và đức mến nơi thầy giảng Anrê Phú yên

Đô. Đaminh Vũ Văn Thiên

Ngày mồng 5 tháng 3 năm 2000, Đức Gioan Phaolô II phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê Phú Yên, tiên khởi tử đạo của Giáo Hội Việt Nam. Thầy chết vì đạo ngày 26/07/1644 tại Kẽ Chàm, tỉnh Quảng Nam. Từ ngày đó tới nay đã 356 năm, Giáo Hội Việt Nam luôn luôn để ý tìm hiểu đời sống của vị anh hùng trẻ tuổi mới 19 tuổi đời đã can đảm hiến mạng sống mình vì danh Chúa Kitô, vì nước Trời nêu gương sáng ngời cho con cháu các thánh tử đạo trên quê yêu quý Việt Nam.

Theo lời Cha Đắc Lộ: Thầy giảng Anrê Phú Yên rất thông minh, tính tình hiền hậu, đơn sơ, chất phác, thanh bạch, quên mình lo giúp đỡ mọi người (xc. Alexandre Rhodes, Glorieuse mort du catheschiste André, tr. 76-78). Đó là những đức tính luân lý tự nhiên vẫn có nơi thầy giảng Anrê Phú Yên và thường có nơi các bạn trẻ Việt nam, đặc biệt nơi các bạn trẻ sống ở đồng quê.

Đây tôi sẽ nói tới Thầy giảng Anrê Phú Yên người anh hùng trai trẻ mới 19 tuổi đã sống và làm gương mẫu cho chúng ta về đời sống đức tin, đức cậy, đức mến, là ba nhân đức đối thần.

Nhờ những đức tính tự nhiên thầy Giảng Anrê Phú Yên đã có sẵn, như nói trên và nhờ ân sủng Chúa ban, đã giúp thầy sống ba nhân đức đối thần cách tuyệt vời.

Nên biết, thời Giáo Hội sơ khai, các thánh Tông Đồ đi tới đâu thì kêu gọi người địa phương ở đó cộng tác giúp các ngài trong lãnh vực truyền bá Tin Mừng của Chúa Kitô. Cha Đắc Lộ đã hoàn thành một công việc quan trọng, có thể nói đấy là nền móng cho sự xây dựng Giáo Hội Việt nam, đó là việc tổ chức “Hội Thầy Giảng” có quy chế sinh hoạt cộng đoàn. Cũng như thánh Anrê tông đồ xưa kia đã từ giã gia đình, từ giã nghề ngư phủ, giữa tuổi xuân xanh đi theo tiếng gọi của Chúa kitô. Ai ngờ 17 thế kỷ sau đã xẩy đến cho một Anrê khác, chính là thầy giảng Anrê Phú Yên, bỏ hết mọi sự để theo tiếng Chúa mời gọi. Được nhận vào “Hội Thầy Giảng” ở xứ Nam cùng với chính thanh niên khác, lựa chọn trong lớp ưu tú của giáo đoàn sơ khai lúc đó, Thầy Giảng Anrê Phú Yên bắt đầu thời kỳ tập sự. Khi đó hai trụ sở huấn luyện các thầy giảng là Hội An và Đà Nẵng. Năm 1643 đã tổ chức lễ khấn cho các thầy giảng tại nhà thờ Hội An. Trong bầu không khí trang nghiêm, sống sắng, mười thanh niên, trong số có Thầy Giảng Anrê Phú Yên, tay cầm nến sáng tiến lên trước bàn thờ. Sau nghi thức phủ phục thống hối và cầu nguyện Chúa Thánh Thần, các Thầy đặt tay trên sách Phúc âm thề hứa suốt đời phục vụ Giáo Hội, ở độc thân, vâng lời các vị thừa sai tới rao giảng Tin Mừng cho quê hương Việt Nam. Sau ngày đã tuyên khấn, cha Đắc Lộ chỉ thị cho các thầy giảng những việc phải làm khi vắng bóng giáo sĩ, các thầy được chia ra hai nhóm; một nhóm do thầy Inhaxiô cầm đầu hoạt động phía Bắc cho đến tận bờ sống Gianh. Nhóm hai phụ trách Miền Nam đến đèo Cả dưới quyền chỉ đạo của thầy Đamasô. Thầy giảng Anrê Phú Yên rất có thể xin vào nhóm hai miền Nam để thỉnh thoảng có dịp về thăm mẹ hay về ra mắt với họ hàng, nhưng thầy thuộc nhóm Miền Bắc luôn luôn hoạt động bên cạnh thủ lãnh Inhaxiô (xc. Alexandre de Rhodes, Voyages et Mission, 1854, tr. 193). Vì vâng lời hay lựa chọn tự do, cử chỉ này đã biểu lộ tinh thần siêu thoát sống đức tin, khiêm nhượng và tinh thần tận hiến vì Nước Trời. Một ngày kia 25 tháng 7năm 1644 lễ thánh Giacôbê tông đồ, vì lòng kính mến thánh Tồng đồng này Thầy giảng Anrê Phú Yên dọn mình xưng tội và sáng hôm đó, thầy dự lễ rước lễ rất sốt sắng. Cha Đắc Lộ sau khi đã làm lễ, tức thì cùng với mấy thầy giảng xuống thuyền đi Dinh Chiêm, có ý thăm quan Nghè Bộ (Ungnebo, Ounguebo) cốt lấy lòng ông vì nghe tin ông mới ở Chính Dinh về. Theo thường lệ, mỗi khi cha Đắc Lộ đi đâu thường đem Thầy giảng Anrê Phú Yên đi theo, nhưng hôm ấy thầy Anrê xin ở lại để săn sóc 4 thầy đang bị bệnh. Cha đồng ý cho thầy ở lại nhà. Không ngờ đức thương yêu của người thanh niên đạo đức ấy sắp được thưởng công bằng triều thiên tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam. Hôm đó vào quãng trưa, Thầy giảng Anrê Phú Yên mạnh dạn ra mặt hỏi bọn lính và nói: “Nếu các anh muốn bắt Inhaxiô thì vô ích, vì Inhaxiô không có ở nhà. Nếu muốn bắt tôi thì tôi sẵn sàng: tôi là giáo hữu, hơn nữa là thầy giảng, tôi có cả hai tội mà các anh gán cho Inhaxiô để bắt thầy ấy. Vậy thầy ấy mà có tội, thì làm sao tôi vô tội được”. (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort du cathèchiste André, tr. 11). Thầy giảng Anrê Phú Yên bị bắt mang xiềng xích vui vẻ đi giữa bọn lính, khiến cho người ta cảm tưởng bọn lính đó mới là người đau khổ chứ không phải là Thầy giảng Anrê Phú Yên. Sau khi xuống thuyền, thầy Anrê giảng cho bọn lính về đức tin. Bọn lính ngơ ngác nhìn nhau cảm động, chính những lời giảng dạy ấy mà quan Nghè Bộ dựa vào đó để giết thầy trong khi không bắt được thầy Inhaxiô.

Khi Thầy giảng Anrê Phú Yên bị điệu đến trình diện với quan Nghè Bộ, quan này tưởng rằng trẻ tuổi non dại không có đủ gan dạ, thế nào mình cũng thuyết phục được, quan nói: đã trót theo “tả đạo”, vậy hãy từ bỏ, quan sẽ giúp đỡ, nếu không quan có cách khiến cho hối không kịp. Tù nhân trẻ tuổi này chính là Thầy giảng Anrê Phú Yên bình tĩnh cương quyết mĩm cười và nói vắn tắt : “Quan và cả bọ hạ có thể giết tôi về phần xác dễ dàng nhưng không thể làm lay chuyển đức tin và lòng mến Chúa trong tâm hồn tôi”. Quan Nghè Bộ thấy thái độ kiên quyết của Thầy giảng Anrê Phú Yên, vô cùng tức giận, không nói lại nửa lời. Quả đúng như lời thánh Phaolô nói trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô: “Thiên Chúa đã chọn những người dại dột ở thế gian mà làm cho các kẻ khôn ngoan phải xấu hổ” (1Cor 1, 27). Quan lệnh cho lính đeo gông vào cổ Thầy giảng Anrê Phú Yên, tống giam vào ngục, ngày mai sẽ quyết định. Sáng hôm sau 26 tháng 07 năm 1644; quan Nghè Bộ triệu tập phiên tòa chớp nhoáng. Và bất chấp các ý kiến của số nhỏ những người tham dự phiên tòa, quan kéo được số tham dự, chức nhỏ hơn về phe với quan. Quan có đa số, quan liền quyết định lập án xử tử hai giáo hữu (một người cũng tên là Anrê 73 tuổi, ông già này cuối cùng cũng được tha còn lại giáo hữu Anrê mới 19 tuổi), quan không cần lời biện minh nào khác. Sau khi có án rồi, bọn lính điệu hai giáo hữu từ nhà lao ra trước tòa án để nghe tuyên án. Hai người đồng đạo chân bước đi vững vàng, tỏ vẻ vui tươi như đi dự tiệc cưới vậy, vai đeo gông mà vẫn hiên ngang vui mừng như người thắng trận trở về, hết lòng ca ngoại tình thương của Chúa.

Trong cùng ngày tuyên án, trước những giờ phút Thầy giảng Anrê Phú Yên sắp bị đưa ra pháp trường chịu tử đạo, có mấy người Bồ Đào Nha tới gặp thầy trong tù, thầy chắp tay ngửa mặt lên trời tạ ơn Chúa, rồi quay lại cám ơn các bạn ngoại quốc đã tận tâm với mình như vậy, cha Đắc Lộ chạy đến ôm hôn Thầy Anrê Phú Yên, hôn thánh giá của thầy, đôi dòng lệ tuôn trào, không sao nói được nửa lời. Thầy giảng Anrê Phú Yên nói lớn tiếng :”tôi là kẻ có tội” xin mọi người cầu cho tôi được chịu khó cho tới chết. Đầy lòng tin cậy, thầy nói tiếp: tôi chẳng sợ cơn điên dại của kẻ dữ, chỉ có thể giết mình phần xác, tôi chỉ sợ Đức Chúa Trời có quyền phạt cả hồn lẫn xác (xc. Alexandre de Rhodes, Relation Progès Foi, tr 31). Có lúc người ta kéo tới nhà tù  đủ mọi hàng người, già trẻ lớn bé, cả người bên lương. Thầy giảng Anrê Phú Yên đón tiếp mọi người rất niềm nở, thầy nói: “Anh chị em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu của ta, ta hãy lấy tình yêu đáp ai tình yêu. Chúa đã chịu đau khổ vì ta, ta hãy lấy sự sống đáp lại sự sống”. Thầy còn khuyên họ những điều tốt điều, giảng cho họ về đức tin, mà thầy sắp đổ máu làm chúng : “Anh chị em thấy rõ, tôi bị bắt và tôi sắp phải chết, chẳng phải vì tội lỗi nào khác, chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Trời Đất, con Một Người đã xuống thế gian cứu chuộc loài người. tôi chẳng sợ hình phạt nào mà người ta có thể bắt tôi chịu, tôi chỉ sợ lửa hỏa ngục đời đời, là hình phạt cho những ai chối từ không tin thờ Chúa Giêsu Kitô, là Chúa Trời Thật, anh chị em đừng từ chối ơn Chúa ban cho anh chị em, nhưng làm sao cho khỏi bị án phạt đời đời”. Thầy giảng Anrê Phú Yên quả là chiến sĩ vô địch về Đức Tin, nóng lòng chờ đợi từng giây phút, giờ hạnh phúc của mình. Thầy hỏi lính: “Sắp tới giờ chưa?. Tôi đã chậm trễ thế, còn chờ đợi gì nữa”. Thầy lại thường nói: Tôi tưởng như cửa thiên đàng đã mở ra cho tôi. Tôi thấy Chúa Giêsu đang đứng trước cửa đón tôi, bao nhiêu thánh Tử đạo giơ cho tôi mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi Thiên Đàng! Hạnh phúc dường bao! Tại sao người tra trì hoãn lâu thế” (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort glorieuse d’Andé, tr. 46).

Vào khoảng 4 giờ chiều, một tên lính cho Thầy giảng Anrê Phú Yên biết sắp tới giờ đi xử, hãy chuẩn bị ăn đi, kẻo không kịp. Cha Đắc Lộ khuyên thầy dùng chút của ăn để có sức ra pháp trường. Thầy giảng Anrê Phú Yên ăn một vài cái bánh, uống một ly nước, rồi nói: “thế là đủ lắm rồi, chẳng cần gì hơn nữa, để dành ăn tiệc thánh trên thiên đàng”. Theo cha Đắc Lộ kể, sau đó thầy giục lòng tin, cậy, mến Chúa, dâng phú mình cho Chúa, luôn kêu tên : “Giêsu Maria, khiêm nhường cầu nguyện ơn Trên nâng đỡ”.

Cũng trong một ngày, vào khoảng năm giờ chiều, viên cai đội với bốn mươi lính nhận lệnh điệu Thầy giảng Anrê Phú Yên ra pháp trường. Họ tới mở cửa tù, ra lệnh cho Thầy giảng Anrê Phú Yên đang mang gông đi theo. Thầy giảng Anrê Phú Yên miệng nở nụ cười tươi tỉnh từ biệt các giáo hữu tới thăm, khuyên nhủ họ cầu nguyện cho sự hy sinh của thầy sắp chịu, rồi vui vẻ lên đường. Tới pháp trường, viên cai đội ra lệnh dừng lại, lính bao vây Thầy giảng Anrê Phú Yên, Thầy quỳ gối, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Lính tháo gông cho thầy, lấy giây thừng trói ngang người: Thầy giảng Anrê Phú Yên biết là những giây phút chót đời thầy đã điểm, thầy quay về phía giáo hữu để từ giã lần chót với những lời thiết tha như sau: ”Xin anh chị em hãy trung thành với Chúa tới chết, không một điều gì có thể giập tắt lòng kính mến Chúa Kitô trong trái tim ta” (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort d’Andre, tr 53).

Rồi Thầy giảng Anrê Phú Yên phó thác mình trong tay Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo. Thầy đọc kinh “kính mừng” nhiều lần, kêu tên cực trọng Giêsu Maria rõ ràng. Và rồi Thầy giảng Anrê Phú Yên bị lính đâm ba lần ở sau lưng, sau vài giây lát tên lính khác tuốt gươm chém thật mạnh vào phía cổ bên trái, đầu thầy nghiêng về phía tay mặt, lính thấy Thầy vẫn chưa ngã xuống, liền chém một nhát nữa ở phía trước, làm ngã hẳn đầu chỉ còn dính sơ vào một chút da. Thầy giảng Anrê Phú Yên không còn nữa, nhưng hình ảnh gương can đảm tử đạo của Thầy vẫn mãi mãi sống trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

Thầy giảng Anrê Phú Yên đã rơi đầu lãnh triều thiên tử đạo. Nhìn vào những sự cố đã xẩy ra trong cuộc đời của Thầy, như đã trình thuật vắn gọn trên đây, chứng tỏ thầy đã sống gương mẫu đức tính luân lý tự nhiên, đặc biệt thầy đã nêu cao tuyệt hảo ba nhân đức đối thần. Nói tới đời sống đức tin của Thầy giảng Anrê Phú Yên, ta thấy là thừa, vì chịu tử đạo là hình thức tuyệt dịu nhất chứng minh đức tin. Thầy giảng Anrê Phú Yên vì tin nên không cậy vào sức riêng của minh, trái lại khiêm tốn và cậy trông vào sự giúp đỡ của Chúa. Trong cả đời sống, trong lúc bị bắt, trong khi bị quan Nghè Bộ tra hỏi Thầy giảng Anrê Phú Yên luôn luôn phó thác tin cậy vào Chúa. Nhất là, đức tin và đức cậy nơi Thầy giảng Anrê Phú Yên được biểu lộ ra bằng đức mến nồng nàn: tận hiến cuộc đời phụng sự Chúa vì mến yêu Chúa và cũng vì yêu thương đã can đảm rao truyền lời Chúa giúp cho nhiều người tin theo Chúa. Nhiều chứng nhân, nhất là cha Đắc Lộ đã nhật thấy rất rõ Thầy giảng Anrê Phú Yên nhiệt tâm phục vụ, chu toàn trách nhiệm của bậc thầy giảng, của một giáo lý viên, luôn tỏ ra biết ơn, quý mến tất cả mọi người đã đến gặp thầy hay thầy có dịp gặp họ. Trước giờ phút chia tay ra pháp trường, thầy còn khuyên nhủ họ hãy vững đức tin, hãy cậy trông vào Chúa: anh chị em đừng từ chối ơn Chúa bao giừo, phải là sao cho khỏi hình phạt đời đời (xc. Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort d’André, tr. 45). Thầy giảng Anrê Phú Yên cũng vì giầu lòng bác ái đối với anh anh đồng nghiệp nằm bệnh ở nhà. Lúc bọn lính xông vào nhà có mục đích bắt thầy Inhaxiô, nhưng không tìm được thầy ấy, đã bắt Thầy giảng Anrê Phú Yên thế vào. Và từ giây phút thầy Anrê bị bắt, bị điệu ra khỏi nhà là khởi điểm đoạn đường thầy ra đi tử đạo, thời gian trên đường đi tử đạo kéo dài lâu, chưa đầu 48 giờ đã dẫn đưa Thầy giảng Anrê Phú Yên tới đài vinh quang đổ máu chết vì đạo. Cuộc đời của Thầy giảng Anrê Phú Yên đã mở sang trang sử mới với danh hiệu: “Người chứng thứ nhất”, “tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam”.

Nguyện xin chân phước Thầy giảng Anrê Phú Yên ban cho các tín hữu trên khắp quê hương Việt Nam được phấn khởi noi gương sáng của Ngài, biết trung thành, can đảm, hiên ngang sống Đức tin, Đức Cậy, Đức Mến trọn vẹn.

  • Untitled
    Kỷ niệm 350 năm thầy giảng Anrê Phú Yên, 26.7.1994, “ngày giáo lý viên Việt Nam” lần thứ nhất Em rao lanh lảnh bánh mì cá, Bánh mới ra lò, cá mới kho. Nghe chị giảng bài, em thấy lạ, Hiên ngoài em đứng, mắt giương to. Kìa chị kể về em đấy sao ? Đúng rồi, hôm ấy tựa chiêm [...] […]
  • Mùa phượng năm ấy
    Mấy trăm năm qua rồi mùa phượng đỏ Nay lại về sắc đỏ của phượng rơi. Anh ra đi giữa mùa hè dịu vợi, Dòng máu tươi thắm nhuộm giữa lưng trời. Anh hiên ngang ngẩng mặt với cuộc đời, Nét thanh thản chẳng gì làm nao núng. Ba nhát gươm làn tim thâu không đúng, Với hai lần mã tấu chém [...] […]
  • tiếng vọng
    Với những chiều như bao chiều lộng gió, Ngước mắt nhìn thổn thức chốn trời cao Anh đứng đó trong vòng tay vẫy gọi, Mắt tuôn trào ôi sung sướng biết bao. Anh đã chết nhưng anh đâu đã chết, Anh vẫn còn trong tiếng vọng tình yêu. Khi hiến trọn anh nhận được hơn nhiều Phúc vinh quang trên bước đường [...] […]
  • Dõi bóng thầy Anrê Phú Yên
    Đẹp biết bao dáng Môi-sê trên núi Tay vươn cao như thẳng tới nước trời. Đẹp biết bao tư thế một con người Quỳ cầu nguyện dẫu đầu rời khỏi cổ ! Thầy Anrê – Tên Thầy không biểu lộ Nhưng tình yêu Thầy chiếu tỏ khắp nơi. Danh Giêsu Thầy chúc tụng không ngơi, Thấm vào máu, dâng trào đời Tử [...] […]
  • Anrê Phú yên
    Trở lại giữa Hội An lịch sử Mắt nhìn trờ môi cất tiếng ca vang … Đem máu đào rửa một đời lâm lụi, Để từ đây vọng mãi tiếng vinh quang. […]
  • Những điểm tương đồng giữa hai người chứng : Anrê Kim thông và Anrê Phú Yên
    Tên tuổi của thày giảng An-rê Phú Yên gắn liền với vinh dự của người kitô hữu việt nam đầu tiên của giáo đoàn Đàng Trong, đã dám đổ máu đào để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giê-su Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để hoàn tất những điều mà Thiên Chúa đã hứa trong lịch sử và mở ra cho con người con đường về với Thiên Chúa Cha. […]
  • Anrê Phú yên, người trẻ trước những thách đố cho tương lai cuộc đời
    Sau gần bốn thế kỷ, ánh sáng của một vì sao đã chiếu đến mặt địa cầu : Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước ! Tiểu sử đời anh không ai biết gì hơn ngoài chứng từ của cha Đắc Lộ. Vị thừa sai nầy đã đưa anh vào đời sống niềm tin Kitô [...] […]
  • Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Chân Phước Anrê Phú Yên
    Trong Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã tuyên phong 44 Chân Phước tử đạo, trong danh sách có tên thầy giảng Anrê Phú Yên. Khi đạo Công giáo được truyền bá vào Việt Nam, nhiều thế hệ thầy giảng đã sát cánh cùng các vị truyền giáo ngoại quốc để đi rao giảng Tin Mừng cho đồng bào của mình. […]
  • Bản tường trình về cuộc tử đạo của thầy Anrê
    Mặc dầu chúng tôi hết sức khẩn khoản và dùng mọi lý lẽ trình với Quan Nghè Bộ, nhưng không thể nào làm cho quan tha mạng cho thày giảng Anrê vinh hiển. Thực vậy, Quan Nghè Bộ phàn nàn về các câu trả lời rất thẳng thắn của Thày giảng và nói: “Anh ta thật bạo gan khi trả lời với tôi rằng anh là Kitô hữu và tôn thờ Chúa Tể Trời Đất, và vì thế, anh sẵn sàng hiến […]
  • Thầy giảng Anrê Phú yên, vị tử đạo tiên khởi của nước Việt Nam
    Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng. Ba thế kỷ rưỡi trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư […]