Lịch thường niên
March 2010
M T W T F S S
« Oct    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
Cầu nguyện cùng chân phước

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết yêu mến Chúa một cách khiêm nhường như Thầy giảng Anrê Phú yên, lấy tình yêu đáp lại tình yêu, đem sự sống đáp đền sự sống mà trung thành với Chúa đến cùng.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin đặt các việc tông đồ của chúng con dưới sự bảo trợ của Thầy Anrê Phú yên. Xin Chúa hãy tỏ vinh quang Chúa trên tôi tớ Ngài, và chúc lành cho mọi công việc chúng con đang làm được thành tựu như Ý Chúa muốn.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.

Archive for the ‘Giáo xứ Mằng Lăng’ Category

Một thoáng Mằng Lăng

Tg: Phạm Ngọc Trản

Trích CG&D tuần lễ 9.7 đến 15.7.2004 tr. 57

PHÚ YÊN LÀ DẢI ĐẤT VEN BIỂN MIỀN TRUNG GHI DẤU CHÂN CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO BAN ĐẦU, TRONG ĐÓ CÓ CHA ĐẮC LỘ. MỘT TRONG NHỮNG BỔN ĐẠO ĐẦU TIÊN VÀ CŨNG LÀ CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN ĐẦU TIÊN CỦA GHCGVN LÀ MỘT TÍN HỮU PHÚ YÊN : THẦY GIẢNG ANRÊ PHÚ YÊN (CUỘC HÀNH HÌNH ANRÊ PHÚ YÊN ĐƯỢC CHA ĐẮC LỘ CHỨNG KIẾN VÀ ĐƯỢC TƯỜNG THUẬT TRONG HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO), ĐƯỢC ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II TẤN PHONG CHÂN PHƯỚC NĂM 2000. ANRÊ PHÚ YÊN LÀ NGƯỜI CON CỦA ĐẤT MẰNG LĂNG, MỘT TRONG NHỮNG GIÁO XỨ CỔ XƯA KỀ CẬN BIỂN – HIỆN THUỘC THÔN HỘI TÍN, XÃ AN THẠCH, HUYỆN TUY AN, CÁCH TỈNH LỴ PHÚ YÊN VỀ PHÍA BẮC 30 CÂY SỐ. TRONG NĂM TRUYỀN GIÁO 2004, MỘT TRONG NHỮNG SỰ KIỆN ĐƯỢC CỬ HÀNH LÀ KÍNH NHỚ CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN VÀO NGÀY 26-7-2004.

1.Một buổi chiều muộn trung tuần tháng 6/2004, tôi có dịp dặt chân đến Mằng Lăng. Thôn Hội Tín là một vùng quê êm ả và Mằng Lăng cũng mang dáng vẻ điều hiu, vắng cả trẻ con dù đang trong ngày hè. Trong những ngày lưu lại đây, tôi chỉ gặp duy nhất một nhóm giáo dân của giáo xứ Thị Nghè trên đường ra Bắc ghé thăm. Nơi lưu giữ vết tích Thầy Giảng Anrê Phú Yên quả là thưa thớt tín hữu ba miền. Thật đáng tiếc khi mà  Anrê Phú Yên là trong những người con của đất Phú Yên được nhiều người trong đạo, ngoài đạo biết đến!. Linh mục Phêrô Nguyễn Cấp, mới đảm nhận cương vị cha sở Mằng Lăng tròn một năm, còn cho biết thêm: “Anrê Phú Yên không chỉ là một tên tuổi quen thuộc đối với nhiều người trong nước mà còn được biết đến ngày càng nhiều trong Giáo hội toàn cầu. Riêng  đối với người dân trong tỉnh, Anrê Phú Yên được xem như là một trong ba người con nổi tiếng của đất Phú Yên. Hai vị kia, một là vị thành hoàng có công khai phá đất Phú Yên đầu thế kỷ 17 thời vua Lê, chúa Nguyễn – Thượng đẳng thần Lương Văn Chánh ; vị còn lại là người có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo miền trung – thiền sư Liễu Quán. Cả ba vị thuộc số những cư dân đầu tiên hiện diện và lưu lại hình tượng đặc sắc nơi mảnh đất Phú Yên”. Tôi đã có dịp tìm dến những nơi ghi lại dấu ấn của cả ba vị danh nhân này. Mộ và đền thờ cụ Lương Văn Chánh tọa lạc nơi xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa, cách trung tâm thị xã Tuy Hòa không đầy 10 cây số trong một khu đồng chiêm thời khai phá. Ngôi mộ cổ có từ năm 1611 và đền thờ cách không xa được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ hai – 1822. Đền thờ còn một cây đa cổ thụ mà gốc cây uốn thành cổng tam quan độc đáo. Bên ngôi đền cũ là một công trình đang trong giai đoạn hoàn tất – nhà truyền thống của vị thành hoàng đất Phú Yên, một công trình mới do tỉnh đầu tư xây dựng. Và nơi đất Phú Yên ngày nay vẫn còn khá đông hậu duệ đời thứ 13-14 của cụ Lương Văn Chánh … . Ngôi chùa thuộc hệ phái của vị tổ Liễu Quán tọa lạc trên một sườn núi cạnh quốc lộ xuyên Việt mang tên Bạch Thạch Sơn. Từ Quang Tự – còn gọi nôm na là chùa Đá Trắng, cách Mằng Lăng 5 cây số về hướng Bắc. Ngôi chùa đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ 17. Còn ngôi chùa nguy nga hiện thời mới được xây dựng đầu thập niên 90 của thế kỷ 20. Chùa Đá Trắng ngày xưa vang danh đặc sản Xoài Đá Trắng, còn gọi là xoài ngự, hoặc xoài tiến mà ngày nay chỉ còn một cây. Chùa cũng đã từng lưu giữ được một cây tầm vông thời Cần vương, được dấu kín trong máng hai bức tường. Đại đức trụ trì Thích Đồng Hòa cho biết : “Bảo tàng TPHCM nghe tin đã tìm đến đây và mong ước được đưa cây tầm vông về trưng bày. Dù là kỷ vật quý hiếm nhưng tôi đã trao tặng không hề do dự “. Cũng với tinh thần khẳng khái, Đại đức Thích Đồng Hòa cũng đã tặng cha sở Măng Lăng một hột xoài ngự đã được ươm sắp nảy mầm để trồng nơi khuôn viên nhà thờ.

2. Tôi cũng không quên lần theo vết tích Anrê Phú Yên tại Mằng Lăng … . Mằng Lăng là một giáo xứ trải rộng với gần 3.000 giáo hữu. Ngoài địa sở chính Mằng Lăng thuộc thôn Hội Tín, còn có 11 giáo họ rải rác trong 7 xã của huyện Tuy An. Hiện thời chỉ còn 5 giáo họ có nhà nguyện : đó là các giáo họ Chợ Mới, Hội Tín, Gò Chung, Đồng Cháy, Xóm Làng ; còn các giáo họ Lò Giấy, Thầy Đông, Đồng Thổ, Sông Cái, Hội Phú, Phú Nhuận chỉ còn lại nền nhà nguyện. Một vài vết tích về Anrê Phú Yên hiện được lưu giữ tại Nhà truyền thống tọa lạc mặt trước nhà thờ. Đó là những bức họa miêu tả cảnh hành hình Anrê Phú Yên – được vẽ theo lời tường thuật của cha Đắc Lộ sau khi trở về phương tây ; nắm đất nơi Anrê Phú Yên nằm xuống ; những mảnh gốm, gạch ngói của nền nhà nguyện nơi Anrê Phú Yên chịu phép rửa bởi chính cha  Đắc Lộ năm 1641; một số tài liệu sách báo viết về Anrê Phú Yên ; hình ảnh lễ tấn phong chân phước Anrê Phú Yên tại Rôma… Còn hài cốt của Ngài hiện đang được lưu giữ ở nước ngòai. Tôi đã tìm đến nền nhà nguyện Lò Giấy – thôn Long Uyên xã An Dân, nơi Anrê Phú Yên nhận lãnh phép rửa nền nhà nguyện bây giờ là một mô đất cao rộng khoảng trăm mét vuông được cư dân tận dụng trồng hoa củ. theo những giáo dân được cha ông lưu truyền, Anrê Phú Yên sinh ra gần nơi rửa tội … . Giáo dân hiện diện rải rác quanh vùng Mằng Lăng đã từ lâu. Nhưng thời điểm định hình địa sở chính như hiện nay là sau phong trào Văn Thân khi cha Lacassagne được bổ nhiệm về vùng này vào tháng 4/1888. năm 1892, Lacassagne khởi công xây dựng ngôi nhà thờ và sau khi ngài qua đời, ngôi nhà thờ tiếp tục được xây dưới thời cha Wendling và khánh thành năm 1907. Được xây dựng cùng thời và tọa lạc kế cận ngôi nhà thờ là cô nhi viện Mằng Lăng và nhà phước Gò Thị. Cô nhi viện Mằng Lăng có lẽ là cơ sở xã hội lâu đời nhất của cả nước và hiện vẫn tiếp nhận những con người cơ nhỡ. Trong số 20 người đang sinh sống tại đây, người có mặt sớm nhất đã từ năm 1957; trẻ nhất là một bé gái 2 tuổi … . Phước viện Mằng Lăng hiện chỉ còn 4 nữ tu hưu dưỡng mà chẳng ai còn nhớ chính xác tuổi của mình. Khi về nhận nhiệm sở Mằng Lăng cách đây một năm, ngòai công việc mục vụ, cha sở Phêrô Nguyễn Cấp đã từng bước bắt tay vào việc chăm lo các học sinh, sinh viên nghèo và đang chuẩn bị khởi công xây dựng Nhà Khách Anrê Phú Yên … . khi hoàn tất Nhà Khách Anrê Phú Yên là một ngôi nhà khang trang một tầng lầu gồm một hội trường và một số phòng sinh hoạt. Còn khuôn viên thánh đường đã được chỉnh trang hàng rào, nới rộng thêm diện tích (8,5m x 8m) do anh Chín Lai cắt phần đất thổ cư hiến tặng … .

3. trong những ngày ngắn ngủi tại Mằng Lăng, tôi cũng đã đến Gành Đá Dĩa cách nhà thờ Mằng Lăng 10 cây số, xuyên qua một số thôn làng nông nghiệp hiền hòa và đẹp như một bức tranh quê. Gành Đá Dĩa là một mỏm núi thấp nhô ra biển với hàng ngàn mỏm đá được thiên nhiên đẽo gọt một cách kỳ thú. Gành Đá Dĩa được công nhận là di tích thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 1996. Nhưng hiện thời, cơ sở và các dịch vụ phục vụ khách tham quan du lịch chưa có gì ! Nếu có, nơi đây có thể trở nên một địa chỉ quen thuộc của các Tuor lữ hành. Phú Yên những năm đầu thế kỷ 21 đang chạy đua với thời gian qua các công trình hạ tầng cơ sở như cầu mới bắc qua sông Đà Rằng, khu đô thị mới trên đường Hùng Vương phía Đông Bắc thị xã … . tôi còn được nghe kể thêm về một bộ sưu tập tiền cổ của bảo tàng Phú Yên, về tù và đá, về di tích Thạch bi Sơn của vua Lê, về điệu múa nón đặc trưng chỉ có nơi vùng đất này … . Đây là những yếu tố liên quan đến tuor du lịch văn hóa – lịch sử mà trong chiều hướng  nhiều mặt như hiện nay, Phú Yên sẽ chẳng thể bỏ quên …. Và nếu có ai có thêm nhu cầu tâm linh, di tích của Anrê Phú Yên hợp cùng các Trà Kiệu (Đà Nẵng) – La Vang (Quảng Trị) trên cùng một chuyến tham quan miền Trung cũng là những nơi cần tìm đến. Một thoáng Mằng Lăng đã lưu lại trong tôi nhiều cảm xúc và lời mời gọi quay trở lại …

Mằng lăng đôi dòng lịch sử

Lm. Pet Nguyễn Cấp

Trích CG&DT tuần lễ 9/7-15/7. tr.57

Mằng Lăng nằm về phía Bắc Phú Yên, ba hướng giáp các giáo xứ Tuy Hòa – Sông Cầu – Đồng Tre và một mặt giáp biển Đông.

nhà thờ Mằng LăngTrên quốc lộ 1A, từ Bắc vô qua trụ cây số 1.300, sẽ gặp cầu Ngân Sơn bắc qua sông Kỳ Lộ (dân địa phương gọi là sông Cái), qua cầu khoảng 600m rồi rẽ trái để vào Mằng Lăng. Từ trong Nam ra, cách ngã ba Chí Thạnh hai cây số, đi theo huyện lộ về hướng Đông để đến Mằng Lăng. Nhà thờ Mằng Lăngchỉ cách đường quốc lộ không đầy hai cây số.

Theo sử sách, đời Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475), mở đến đất này lấy núi Thạch Bi làm giới hạn. Triều Nguyễn đời Chúa Tiên năm Mậu Dần (1578), vua ủy nhiệm ông Lương Văn Chánh làm Trấn Biên Quan nhưng mãi đến năm Kỷ Ty 1629, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mới cho lập Dinh Trấn Biên và giao cho người con rể là Nguyễn Phúc Vinh làm Quan Trấn Thủ. Bản đồ của Cha Đắc Lộ năm 1651 ghi Dinh Trấn Biên là Dinh Phoan, phía trước Dinh là một dòng sông. Ngày nay Dinh Trấn Biên được người địa phương gọi là Thành Cũ thuộc thôn Hội Phú, xã An Ninh Tây, cách nhà thờ Mằng Lăng về hướng Đông Bắc 1 cây số đương chim bay. Dinh Trấn vang bóng một thời này nay chìm sâu dưới dòng Sông Cái.

Vợ Quan Trấn Thủ là công chúa Ngọc Liên – trưởng nữ của Chúa Sãi đã lãnh nhận bí tích rửa tội năm 1636 với tên thánh là Maria Mađalêna. Sau khi tòng giáo, bà lập nhà nguyện trong Dinh Trấn Biên, hằng ngày nhiều giáo hữu đến đây tham gia việc bác ái và truyền giáo làm cho nhiều người nhận biết Thiên Chúa. Tại Trại Thủy gần cửa biển Tiên Châu, có vợ chồng quan coi cửa biển cũng mang tên thánh là Biển Đức giữ đạo sốt sắng. Ngoài ra còn có ông thầy thuốc danh tiếng, đạo đức lấy tên là Emmanuel, ở tại Hội Phú được nhiều người quí mến… Như thế nhóm giáo hữu đầu tiên ở vùng đất này thuộc thành phần quan viên dinh trấn hoặc những di dân phía Bắc đến lập nghiệp theo chủ trương di dân lập ấp (thời ông Lương Văn Chánh).

Trong khoảng 50 năm(1615 – 1664), những báo cáo thường niên của các Cha Dòng Tên ở Đàng Trong chỉ ghi có 3 cư sở : Hội An, Nước Mặn và Thanh Chiêm. Đây là những trung tâm xuất phát đi các vùng lân cận truyền giáo. Như thế, lúc bấy giờ Phú Yên (Ranran) nói chung và vùng Dinh Trấn Biên nói riêng là vùng hoạt động của các nhà truyền giáo đặt cư sở tại Nước Mặn do cha Buzomi làm trưởng đoàn (cách thành Qui Nhơn thời đó 10 cây số về hướng Đông).

Lễ Phục Sinh 31/3/1641, cha Đắc Lộ đến cửa biển Bà Đài (cửa biển Tiên Châu, vịnh Xuân Đài, An Ninh Tây ngày nay). Cha được Quan Trấn Thủ tiếp đón và ở lại đây 2 tháng thăm viếng các giáo hữu và đã rửa tội cho Anrê Phú Yên cùng với khoảng 90 người khác tại nhà nguyện trong Dinh Trấn Biên.

Năm 1642, ch Đắc Lộ trở lại viếng thăm Phú Yên một lần nữa và trở về Hội An (Quảng Nam), ngài đã dẫn theo Anrê Phú Yên và cũng chính tại đây, Anrê Phú Yên chịu tử đạo ngày 26/7/1644 lúc 19 tuổi sau 3 năm lãnh nhận bí tích rửa tội. Anrê Phú Yên – vị tử đạo tiên khởi đã được tôn phong chân phước ngày 5/3/2000.

1.                  Sau khi các nhà truyền giáo Dòng Tên rời Đàng Trong (1665), lúc đầu vùng truyền giáo Phú Yên được giao cho các linh mục thừa sai Paris đảm nhận. Sau được giao cho hai nhóm : các vùng phía Bắc của tỉnh  thuộc quyền Hội Thừa Sai  Paris (MEP) và vùng phía Nam được giao cho các nhà truyền giáo của Thánh Bộ với nhà nguyện Phong Lua được cha Martiali xây dựng năm 1736 (gần nhà thờ Chợ Mới). Cơ sở của hai nhóm đều đặt tại phần đất của giáo xứ Mằng Lăng ngày nay. Lúc bấy giờ, theo kiểm kê của Đức cha Bennét, tỉnh Phú Yên có 10 nhà nguyện, 6 nhà thờ. Theo báo cáo của MEP năm 1747, Phú Yên có 14 nhà thờ và nhà nguyện, trong đó có những nơi thuộc vùng đất giáo xứ Mằng Lăng ngày nay : Chợ Mới có 200 giáo dân, Thầy Đông 100 giáo dân, Mái Nhà 25 giáo dân, Quán Cau 100 giáo dân. Đến năm 1850, theo báo cáo của Đức cha Thể gửi cho hội thừa sai Paris, vùng Mằng lăng hiện nay có những họ đạo : Chợ Mới 423 giáo dân, Đông Cháy 243, Lò Giấy 303, Mằng Lăng 154, Thầy Đông 65, Đông Thổ 72, Diêm Điền 230, An Hòa 123, Suối Môn 168,Quán Cau 194. Lúc này, Chợ Mới vẫn là cư sở của các linh mục.

Tiền bán thế kỷ 19, với nhiều sắc chỉ cấm đạo và phong trào Văn Thân, số tín hữu toàn tỉnh Phú Yên đã suy giảm nghiêm trọng : trước Văn Thân có 6.890 tín hữu với 40 họ đạo, 2 nhà phước, sau Văn Thân chỉ còn 1.109 người.

Sau phong trào Văn Thân, đầu năm 1887, Đức cha Van Caimelbecke cho cha Guitton cùng hai cha phụ tá là Gioakim Đạt và Phêrô Huề đến Phú Yên. Cha Guitton phụ trách phía Tây  (Cây Gia), 2 cha phụ tá phía Nam (Hoa Vông). Tháng 4/1888, cha Lacassagne được bổ nhiệm đến Phú Yên với vai trò quản nhiệm toàn vùng. Ngài được tự do chọn Hoa Vông hoặc Mằng Lăng làm trụ sở và ngài đã chọn Mằng Lăng.

Kể từ khi cha Lacassagne đến Mằng Lăng, hai năm sau đã có 564 người lớn lãnh nhận bí tích rửa tội, 162 em bé được rửa tội trong trường hợp nguy  tử. Ngài vừa ổn định đời sống giáo dân vừa lo việc truyền giáo. Ngài xây dựng lại nhà phước Mằng Lăng, lập cô nhi viện giao cho 2 nữ tu bản xứ coi sóc. Năm 1892, cha Lacassagne khởi công xây dựng nơi thánh đường Mằng Lăng hiện nay. Năm 1896, Phú Yên được chia làm 3 giáo xứ với 3 thừa sai : giáo xứ vùng phía Nam giao cho cha Dubulle, miền núi giao cho cha Wendling và vùng phía Bắc do cha Lacassagne đảm nhiệm. Từ đây ta có thể gọi Mằng Lăng như là một giáo xứ và là giáo xứ trung tâm của Phú Yên.

Kể từ cha Lacassagne, Mằng Lăng được tiếp tục coi sóc bởi 4 linh mục thừa sai, và từ 1928 đến nay là 15 linh mục người Việt. Mằng Lăng hiện thời có gần 3.000giáo hữu thuộc 12 giáo họ. Ngoài họ chính Mằng Lăng, có thêm 5 chi họ có nhà nguyện, có đông đúc tín hữu, có sinh hoạt tổ chức; còn các nơi khác hoặc sáp nhập với chi họ kế cận hoặc nhập về họ chính Mằng Lăng để sinh hoạt.

Vài nét về giáo xứ Mằng Lăng

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ :

Giáo Xứ Mằng Lăng thuộc phía Bắc Phú Yên. Phía Bắc giáp Giáo Xứ Sông Cầu, phía Nam giáp Giáo Xứ Tuy Hoà, phía Tây giáp Giáo Xứ Đồng Tre, phía Đông giáp Biển Đông. Phần đất của Giáo Xứ Mằng Lăng hiện nay bao gồm thị trấn Chí Thạnh và 12 xã của huyện Tuy An : An Thạch, An Cư, An Hiệp, An Hoà, An Mỹ (Bắc Hòa Đa),An Ninh Đông, An Ninh Tây, An Dân, An Định, An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh. Trên Quốc lộ IA Từ Bắc vô Nam qua trụ cây số 1300 sẽ gặp cầu Ngân Sơn bắc qua sông Kỳ Lộ, dân địa phương gọi là sông Cái. Qua khỏi cầu Ngân Sơn chừng 600 mét, hoặc nếu từ Nam ra Bắc cách ngã ba Chí Thạnh 02 Km, gặp trụ cây số 1301, đi theo huyện lộ về hướng Đông 1900 mét sẽ đến nhà thờ Mằng Lăng cổ kính thuộc thôn Hội Tín, xã An Thạch. Nét cổ kính của ngôi nhà thờ đã nói lên bề dày lịch sử của Giáo xứ.

II. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ:

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ( mục Phú Yên, trang 07 ) có ghi : “Đời Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475) đánh Chiêm Thành mở đến đất nầy lấy núi Thạch Bi làm giới hạn, nhưng từ núi Cù Mông vào Nam còn thuộc man lèo. Qua triều Nguyễn đời chúa Tiên năm Mậu Dần (1578) vua ủy nhiệm ông Lương Văn Chánh làm Trấn Biên Quan, chiêu tập lưu dân đến Cù Mông, Bà Đài, khẩn hoang ở Đà Diễn.” Theo đó, ông Lương Văn Chánh làm Trấn Biên Quan nhưng mãi đến năm Kỷ Tỵ 1629, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mới cho lập Dinh Trấn Biên và giao cho người con rể là Nguyễn Phúc Vinh làm Quan Trấn Thủ. Trong bản đồ Việt Nam gồm Đàng Ngoài và Đàng Trong của Cha Đắc Lộ năm 1651 ghi Dinh Trấn Biên là Dinh Phoan, phía trước Dinh là một dòng sông. Ngày nay Dinh Trấn Biên được người địa phương gọi là Thành Cũ thuộc thôn Hội Phú, xã An Ninh Tây, cách nhà thờ Mằng Lăng về hướng Đông Bắc chừng 01 km đường thẳng, tất cả Dinh Trấn đã vang bóng một thời xưa, nay chìm sâu dưới nước dòng sông Cái (Sông Kỳ Lộ chảy đến đây người địa phương gọi là Sông Cái).

Vợ Quan Trấn Thủ là Ngọc Liên công chúa, trưởng nữ của chúa Sãi đã lãnh nhận bí tích rửa tội năm 1636 với tên thánh Maria-Mađalêna. Cuộc tòng giáo của bà được sử liệu ghi chép như sau : “ Tại phú Yên lúc ấy xảy ra một cuộc cãi lý giữa một giáo hữu sốt sắng tên là Hiêrônimô, và một nho sĩ ngoại giáo trước mặt Quan Trấn Thủ… Nho sĩ nầy phải đuối lý không trả lời được câu nào… Quan Trấn Thủ rất mộ mến đạo ta, song ông không theo vì ông không thể bỏ được các vợ bé của ông; tuy vậy ông cho bà vợ cả theo đạo, nếu bà muốn. Bà nầy liền tòng giáo và chúng tôi hy vọng bà sẽ làm cho chồng bà trở lại.” (Người Chứng Thứ Nhất – Phạm Đình Khiêm – sđd trang 50-51). Sau khi tòng giáo bà lập một nhà nguyện ngay trong Dinh Trấn Biên, hằng ngày nhiều giáo hữu đến đây tham gia việc bác ái và truyền giáo làm cho nhiều người nhận biết Thiên Chúa . Tại Trại Thủy (gần cửa biển Tiên Châu) có vợ chồng quan coi cửa biển cũng giữ đạo sốt sắng đều lấy tên thánh là Biển Đức. Ngoài ra còn có ông thầy thuốc danh tiếng, đạo đức, thương người tên là Emmanuel ở tại Hội Phú được nhiều người quý mến (sđd).

Như thế, nhóm giáo hữu đầu tiên ở vùng đất nầy thuộc thành phần một số quan viên dinh trấn, hoặc những di dân phía Bắc đến lập nghiệp theo chủ trương di dân lập ấp ( năm Mậu dần 1578, với Ông Lương Văn Chánh), và một số người mới đón nhận Tin Mừng được các nhà truyền giáo dòng Tên rửa tội.

Trong khoảng 50 năm (1615-1664) những báo cáo thường niên của các nhà truyền giáo dòng Tên ở Đàng Trong chỉ ghi có 03 cư cở: Hội An, Nước Mặn và Thanh Chiêm. Đây là những trung tâm, từ đó xuất phát đi truyền giáo các vùng lân cận. Như thế, lúc bấy giờ Phú Yên (Ranran) nói chung và vùng Dinh Trấn Biên nói riêng là vùng hoạt động của các nhà truyền giáo đặt cư sở tại Nước Mặn do cha Buzomi làm trưởng đoàn (cách thành Qui Nhơn thời đó 10Km về hướng Đông).

Vào một buổi sáng ngày 31/3/1641 ( lễ Phục Sinh) Cha Đắc Lộ đến cửa biển Bà Đài (cửa biển Tiên Châu, vịnh Xuân Đài , An Ninh Tây ngày nay). Cha được Quan Trấn Thủ tiếp đón và ở lại đây 02 tháng, cha thăm viếng các giáo hữu và đã rửa tội cho Anrê Phú Yên cùng với khoảng 90 người khác tại nhà nguyện trong Dinh Trấn Biên.

Năm 1642, Ngài trở lại viếng thăm Phú Yên một lần nữa và khi trở về Hội An (Quảng Nam), nơi có trụ sở của Hội Thày Giảng, Ngài đã dẫn theo Anrê Phú Yên và cũng chính tại đây, Anrê Phú Yên chịu tử đạo vào ngày 26 tháng 7 năm 1644, lúc 19 tuổi, sau 03 năm lãnh nhận bí tích rửa tội. Năm 1645, Cha Đắc-Lộ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam. Vị Tử Đạo tiên khởi của Việt nam là Anrê Phú Yên đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước vào ngày 05 tháng 3 năm 2000.

Sau khi các nhà truyền giáo dòng Tên rời khỏi Đàng Trong (1665), lúc đầu vùng truyền giáo Phú Yên do các linh mục thừa sai Ba-Lê đảm nhận. Số giáo hữu tăng dần, nhiều giáo điểm có nhà nguyện được thiết lập, nhưng số Thừa Sai còn ít ỏi, không ở cố định một nơi, sự hiện diện của các Thừa Sai chỉ có tính cách vãng lai. Trong bản tóm lược tiểu sử Đức Cha Charles Marin Labbé, Phó Giám Mục Đàng Trong (1697-1723) có ghi: “Ngài chết gần họ giáo chính của Phú Yên, thuộc vùng Mằng Lăng”. Lúc nầy Mằng Lăng chỉ là tên gọi của một vùng đất. Thời gian nầy công cuộc truyền giáo ở Phú Yên được giao cho 2 nhóm truyền giáo: Các vùng phía Bắc của tỉnh thuộc quyền Hội Thừa Sai Paris (MEP) và vùng phía Nam được giao cho các nhà truyền giáo của Thánh Bộ với nhà nguyện Phong-Lua được Cha Joseph Martiali xây dựng vào năm 1736, gần Nhà Thờ Chợ Mới. ( Phong lua đó là Phường Lụa, tục danh thôn Ngân Sơn thị trấn Chí Thạnh ngày nay, một vùng sản xuất lãnh lụa ngũ sắc nỗi tiếng một thời, ca dao còn để lại : Đất Cù Du là nơi chiếu tốt, Lãnh nào tốt bằng lãnh Ngân Sơn.). Như vậy, cơ sở của hai nhóm đều đặt tại phần đất giáo xứ Mằng Lăng ngày nay, chắc chắn đây là trung tâm của công cuộc truyền giáo tỉnh Phú Yên. Lúc bấy giờ, theo kiểm kê của Đức Cha Bennétat, thì tỉnh Phú Yên gồm có 10 Nhà Nguyện và 6 Nhà Thờ (BAVH, No.4, p.208-209). Theo báo cáo của Hội Thừa Sai Paris năm 1747 thì trong tỉnh Phú Yên có 14 nhà thờ và nhà nguyện, trong đó có những nơi thuộc vùng đất giáo xứ Mằng Lăng ngày nay: Chợ Mới có 200 giáo dân, Thầy Đông 100 giáo dân, Mái Nhà 25 giáo dân, Quán Cau 100 giáo dân. Trong danh sách các linh mục tham dự công đồng Gò Thị năm 1841 có các linh mục làm việc tại Phú Yên : Gioakim Lê Văn Tự, Tôma Phan Văn Tông, Anrê Nguyễn Phước Nguyên, Phaolô Đặng Văn Lợi. Trong danh sách các linh mục bản xứ của vùng truyền giáo có ghi số linh mục xuất thân từ Phú Yên : Cha Thới, cha Hòa, Cha Lộc (thụ phong linh mục trước năm 1844), Cha Hoàng (Đức Cha Stêphanô), Cha Cẩm ( Đức Cha Luy Galibert Lợi truyền chức). Cũng trong danh sách nầy có các linh mục làm việc tại Phú Yên : Cha Hiền, Cha Thọ (trước 1862), cách Quán Cau về hướng Nam chừng 07 km có họ đạo Gò Mỹ (Gò Me – Hòa Đa) là nơi cha Phạm Ẩn Sĩ (quê Gia Hựu) đã làm việc mục vụ trước khi chịu chết vì Đạo tại Thái Nguyên năm 1862 (Mm. No.62/1910, p.12-14). Cha MAZOYER vừa thụ phong linh mục năm 1881 sau đó đến Quán Cau và bệnh sốt đã sớm đưa ngài về chầu Chúa tại Quán Cau ngày 06/10/1882 (Nécrologie de Mazoyer). Năm 1850 trong báo cáo của Đức Cha Stêphanô Thể gởi cho Hội Thừa Sai Ba-Lê Truyền Giáo Hải Ngoại, vùng Mằng Lăng hiện nay có những họ đạo : Chợ Mới 423 giáo dân, Đồng Cháy 243, Lò Giấy 303, Mằng Lăng 154, Thầy Đông 65, Đồng Thổ 72, Diêm Điền 230, An Hòa 123, Suối Môn 168, Quán Cau 194. Lúc nầy Chợ Mới vẫn là cư sở của các linh mục. Tại Lò Giấy có chú Tađêo Nghiêm theo giúp Đức Cha Stêphanô, chú cùng bị bắt với Đức Cha tại nhà bà Lưu và chịu chết vì Đạo tại Gò Chàm, Bình Định năm 1861 ( Mm. 1909 /No. 51/ P. 48). Cùng quê Lò Giấy có thầy Phêrô Quờn đã lãnh bốn chức nhỏ, chịu tử đạo ngày 27/06/1862 tại Gò Chàm với hình án giảo quyết ( Mm.5/1909,p.77,79,86).

Chặng đường dài truyền giáo kể trên như thời gian tung gieo hạt giống chờ ngày mùa tử đạo. Tiền bán thế kỷ 19 với những sắc chỉ cấm đạo triệt để, rồi dây dưa tiếp diễn một thời gian dài. Tín hữu khắp nước thông phần thập giá với Chúa Giêsu đủ trăm ngàn cách, nhưng cao điểm khốc liệt nhất là những ngày tháng của phong trào Văn Thân. Tổng kết toàn tỉnh: Trước Văn Thân có 6.890 tín hữu gồm 40 họ đạo, 02 nhà phước, sau Văn Thân còn 1.109 người.(R.A.E 1885. Mgr Van Camelbeke)

Riêng tại vùng Mằng Lăng:

Ngày 19/8/1885 Văn Thân đưa cha Iribarne (Cố Thành) về chầu Chúa tại Quán Cau, đầu thì treo trên cây, thân mình thì được phân mảnh rồi thiêu đốt (Nécrologie de Iribarne). Phong trào Văn Thân cũng tiễn cha Bảo về chầu Chúa tại Chợ Mới. Còn Nhà Phước Mằng Lăng thì Cha Durand viết :“Mới đây, tại Phú Yên là tỉnh phía Bắc Khánh Hòa, tôi đã thăm cảnh tro tàn thê lương của nhà dòng Mằng Lăng và Hoa Vông. Nhà dòng đầu tiên chỉ còn lại hai nữ tu chuyên đi rửa tội, đã may mắn vắng mặt lúc đám quân sát nhân tới bao vây giáo họ.” ( AMEP, tập 821, p.3-7). Cam chịu, phó thác, các nhóm tín hữu trong vùng Mằng Lăng đồng chịu số phận, những kỳ tích các nơi còn vang tiếng: Lò Giấy, Phú Sơn, Cầu Nhánh, Núi Một, Mằng Lăng, Soi Giữa, Thầy Đông.

Sau phong trào Văn Thân, đầu năm 1887 Đức ChaVan Calmelbecke cho Cha Guitton cùng 02 cha phụ tá cha Gioakim Đạt và Cha Phêrô Huề đến Phú Yên. Cha Guitton phụ trách phía Tây (Cây Gia), 02 cha phụ tá phía Nam ( Hoa Vông). Sau ngày 10/04/1888 Cha Lacassagne được bổ nhiệm đến Phú Yên với chức năng quản nhiệm toàn vùng truyền giáo Phú Yên, ngài được tự do chọn Hoa Vông hoặc Mằng Lăng làm trụ sở. Ngài đã chọn Mằng Lăng.

Tháng 09/1888 Đức Cha Van Camelbecke chia Phú Yên làm 02 vùng : Cha Guitton phụ trách vùng Nam Phú Yên có cha phụ tá người Việt Nam là cha Đạt đặt cư sở tại Hoa Vông. Cha Lacassagne phụ trách vùng phía Bắc đặt cư sở tại Mằng Lăng , có cha Huề (quê Phú Điền) làm phụ tá ở tại Cây Gia. Năm 1893 Cha Giuse Nhi về thay thế cha Huề, hơn 04 tháng sau cha Antôn Bản thay cho cha Nhi. Năm 1895 cha Bản về Gò Duối, cha Wendling đảm nhiệm vùng Miền Núi Phú Yên. Năm 1897 cha F.x Hương về Gò Duối thay cha Bản, năm 1898 Cha Phêrô Cao thay cho cha Hương. (Mémoriale 4/1927, p. 30). Như thế mùa gặt tử đạo đã qua và những giọt máu tử đạo đã trở nên những hạt giống mới trổ sinh nhiều hoa trái.

1. Linh mục Joseph LACASSAGNE (Cố Xuân) : Đến Mằng Lăng năm 1888. Hai năm sau có 564 người lớn lãnh nhận bí tích rửa tội, 162 em được rửa tội trong trường hợp nguy tử. Ngài vừa ổn định đời sống giáo dân vừa lo công việc truyền giáo, xây dựng lại Phước Viện Mằng Lăng, lập Cô Nhi Viện giao cho 2 nữ tu người bản xứ chăm sóc. Năm 1892, Cha Lacassagne khởi công xây dựng ngôi thánh đường Mằng Lăng hiện nay. Năm 1896, Phú Yên được chia thành 03 Giáo Xứ (Secteurs paroissiaux) (*) giao cho 03 Thừa Sai: Giáo Xứ vùng Phía Nam giao cho cha Dubulle, Miền Núi giao cho cha Wendling và vùng phía Bắc cha Lacassagne đảm nhiệm ( Fiche individuelle de Wendling), như thế từ đây ta có thể gọi Mằng Lăng như là một giáo xứ, và là giáo xứ trung tâm của Phú Yên , những sinh hoạt chung của các linh mục như tịnh tâm đều tập trung về đây. Khi công việc xây dựng ngôi thánh đường còn đang dang dỡ, ngài bất ngờ lâm trọng bệnh và mất tại bệnh viện Quân Đội ở ĐàNẵng vào ngày 01/8/1900, lúc 44 tuổi. Hài cốt được cải táng đem về chôn cất trong Thánh đường Mằng Lăng hiện nay.

2. Linh mục Antoine Joseph Louis Edmon WENDLING ( Cố Linh) : Cha Wendling về làm cha sở Mằng Lăng năm 1901. Năm 1903 có 2555 tín hữu trong 19 giáo điểm . Số người tòng giáo rất đông nhưng số tín hữu không gia tăng vì những trận sốt rét đã cướp đi nhiều nhân mạng. Năm 1906 số tín hữu chỉ còn trên dưới 2360 người. Ngài tiếp tục công trình xây dựng Nhà Thờ của cha Lacassagne, khánh thành vào ngày 14 tháng 4 năm 1907. Nhà thờ có hai tháp chuông với 03 chuông lớn nhỏ, ngày 30/5/1905 thầy Cách đã đến cửa biển Tiên Châu đưa chuông lớn (quà tặng từ Marseille) về Mằng Lăng. Đức Cha Grangeon đến khánh thành, Đức Cha ngỏ lời khen ngợi ‘ước gì đem được về Bình Định để làm nhà thờ Chính Toà cho Giáo Phận…’ (Mm. 04/1907. p.34). Liền kề sau nhà thờ là nhà vuông có hè rộng tứ hướng được chia làm 03 gian thoáng mát tồn tại cho đến ngày nay.

Bên cạnh nhà thờ có nhà lẫm kiên cố, tường dày 60 phân, sau năm 1975 nhà lẫm hoàn toàn được san bằng. Nhờ nguồn thu từ số ruộng đất trên 200 mẫu ta, nên sau khi hoàn thành Nhà thờ, ngài lập lệ phát chẩn hằng tháng cho các gia đình nghèo. Những người mới lập gia đình, ngài cấp đất làm nhà. Các Chức Việc phục vụ giáo xứ cũng được cha phụ cấp hằng năm. Những việc làm nầy được các cha sở kế nhiệm tiếp tục cho đến năm 1945. Năm 1918, vì lâm bệnh Cha Wendling phải trở về Pháp để chữa trị và qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1923, lúc 46 tuổi.

3. Linh mục Marius Julien JEAN (Cố Gioan) : Cha Jean về làm cha sở Mằng Lăng từ tháng 05/1919 đến tháng 12/1926. Năm Giáp Tý (1924), có trận bão lớn làm sụp đổ tầng mái cổ lầu nhà thờ, cha làm lại phần mái hạ thấp xuống gần 2m như hiện nay.

4. Linh mục Jean Marie François PORCHER (Cố Kính) : Ngài đến Mằng Lăng vào tháng 02 năm 1927 và ở đây được 15 tháng, ngài là vị thừa sai cuối cùng ở đây. Vào tháng 6 năm 1928, Đức Cha Tardieu quyết định giao giáo xứ cho các linh mục Việt Nam coi sóc.

CÁC LINH MỤC QUẢN XỨ VIỆT NAM (1928 cho đến nay):

1. 1928 – 1944 Linh mục Giacôbê Lê Kim Dung (nguyên quán Trà Kiệu, Quảng nam) từ Trà Kê đổi đến. Ngài củng cố, xây dựng nhà nguyện các họ nhánh, phát triển Phước Viện , Cô Nhi Viện, xây hang đá Lộ Đức, cổ võ việc tôn sùng Thánh Tâm. Ngài xây dựng trường tiểu học bên cạnh nhà thờ, dạy miễn phí, thu nhận học sinh không phân biệt lương giáo. Ngôi trường nầy ngày nay còn 01 phòng dùng làm nhà ở cho các nữ tu đến giúp giáo xứ. Năm 1944 ngài nghỉ hưu.

2. 1944 – 1947 Linh mục Phaolô Trương Công Chánh (nguyên quán Hoà Mục, Bình Định).

3. 1947 – 1950 Linh mục Phêrô Nguyễn Đình Tịch (nguyên quán Đồng Tre, Phú Yên). Ngài mở trường Trung Học Tư Thục Trương Vĩnh Ký, trường trung học thứ hai trong toàn tỉnh sau trường công lập Lương Văn Chánh. Ngôi trường nầy ngày nay vẫn còn, dùng làm lớp học giáo lý, phòng đọc sách và phòng truyền thống Anrê Phú Yên. Ngài tổ chức đắp đập, mở hệ thống kênh mương đưa nước về các cánh đồng trong vùng.

4. 1950 – 1951 Linh mục Phêrô Nguyễn Vĩnh Lưu (nguyên quán Mằng Lăng).

5. 1951 – 1955 Linh mục Phaolô Huỳnh Tấn Ngoan (nguyên quán Nghĩa Hành, Quảng Ngãi).

6. 1956 – 1957 Linh mục Gioan Phùng Văn Như (nguyên quán Bình Cang, Nha Trang). Cho đến lúc nầy giáo xứ Mằng Lăng là giáo xứ quan trọng hàng đầu của Phú Yên. Hằng tháng các linh mục trong vùng về đây tĩnh tâm. Còn một tờ giấy giới thiệu trong sổ rửa tội của Mằng Lăng có ký tên Linh mục Gioan Phùng Văn Như, hạt trưởng.

7. 1957 – 1959 Linh mục Antôn Hoàng Liên Mầu (nguyên quán Tiên Đỏa, Quảng Nam).

8. 1959 – 1974 Linh mục Phaolô Nguyễn Xuân Bàn (nguyên quán Phú Thượng, Quảng Nam). Vì chiến tranh, nên năm 1964, ngài tạm rời Mằng Lăng về Phú Tân, xã An Cư. Phước Viện và Cô Nhi Viện dời vào Tuy Hoà, dân chúng di cư nhiều nơi, Mằng Lăng trở thành hoang vắng cho đến sau năm 1975 mới dần dần hồi sinh.

9. 1974 – tháng 12/1975 Linh mục Phaolô Trương Đắc Cần (nguyên quán Gia Hựu, Bình Định). Ngài đến Phú Tân thay cha Bàn được vài tháng, sau ngày 30/4/1975 ngài về Mằng Lăng lo tu sửa, phục chế nhà thờ, nhà xứ sau 10 năm hoang vắng. Ngài đã đề nghị với Đức Giám Mục Giáo Phận thành lập Trung tâm Đại Chủng Viện Mằng Lăng qui tụ được 06 chủng sinh, hiện nay có 3 chủng sinh thuộc Trung Tâm Mằng Lăng đã được thụ phong linh mục: Giuse Trương Đình Hiền, Vinh- Sơn Nguyễn Văn Bản và Gioan Võ Đình Đệ. Vào tháng 7 năm 1976 có cha Phêrô Võ Tá Khánh từ Đà Lạt về hướng dẫn nhóm chủng sinh nầy nhưng đến 13/10/1976 cha phải trở về lại Đà Lạt.

10. 1975 – tháng 10/1986 Linh mục F.X. Nguyễn Xuân Văn (nguyên quán Đồng Dài, Bình Định). Sau ngày 30/4/1975 cha F.X Nguyễn Xuân Văn và cha Giacôbê Nguyễn Thành Tri từ giáo phận Đà Nẵng trở về giáo phận Qui Nhơn. Đức Giám Mục giáo Phận quyết định lấy 03 giáo họ của giáo xứ Mằng Lăng : Chợ Mới, Xóm Làng, Đồng Cháy lập thành giáo xứ Chợ Mới, giao cho cha Giacôbê Nguyễn Thành Tri. Còn lại 09 giáo họ thuộc giáo xứ Mằng lăng do cha F.X. Nguyễn Xuân Văn đảm nhiệm. Số giáo dân hồi cư ngày càng đông.

11. 1986 – tháng 03/1992 Linh mục Giacôbê Nguyễn Thành Tri (nguyên quán Tân Lộc, Quảng Ngãi). Khi cha Tri làm cha sở Mằng Lăng, giáo xứ Chợ Mới không có linh mục đến ở thường xuyên, cha sở Mằng Lăng kiêm nhiệm Chợ Mới.

12. 1992 – 27/07/1997 Linh mục Phêrô Bùi Huy Bích (nguyên quán Gia Hựu, Bình Định). Ngài có công trùng tu Nhà Thờ và hoàn thành công việc vào ngày Lễ Tổng Lãnh Thiên Thần 29/6/1994, cũng là năm kỷ niệm 102 năm xây dựng Nhà Thờ. Ngài đột ngột qua đời do tai biến mạch máu não vào ngày 27/7/1997. Mộ ngài nằm trước đài Thánh Giuse trong khuôn viên nhà thờ.

13.Tháng 09/1997 – tháng 11/1997 Linh mục Phêrô Tuần Nguyễn Cao Hiên ( nguyên quán Bùi Chu).

14. Tháng 12/1997 – tháng 06/2003 Linh mục Phaolô Nguyễn Minh Chính (nguyên quán Gia Hựu, Bình Định).

15. 02/07/2003 …… Linh mục Phêrô Nguyễn Cấp.

(*) Theo Giáo Luật, chỉ nơi nào đã được thành lập Hàng Giáo Phẩm mới có giáo xứ chính thức ( Paroisse ). Giáo xứ là do Giám Mục Giáo Phận Chính Tòa thiết lập. Trong các vùng truyền giáo như tại Việt Nam lúc bấy giờ thường chỉ có Trụ Sở Truyền Giáo ( Station missionnaire ). Tuy nhiên khi một trụ sở có đông giáo dân, lại có phương tiện sống đầy đủ thì có thể nâng lên hàng giáo xứ bán chính thức . Trong các bài nầy khi dùng cách gọi ‘giáo xứ’ là theo cách dùng từ ‘Curé’ trong những bổ nhiệm các linh mục.

Ngày 31/01/1958 Đức Cha P.M. Phạm Ngọc Chi đã quyết định và công bố nâng lên hàng giáo xứ bán chính thức ( quasi paroisse ) những nơi sau đây : Đà Nẵng, Trà Kiệu, Cù Và, Gia Hựu, Nhà Đá, Gò Thị, Qui Nhơn và Mằng Lăng ( Thông Tin số 03/1958, trang 03).

Ngày 24/11/1960. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ký Sắc Chỉ thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam .

Ngày 06/02/1961, theo quyết nghị của Hội Đồng Giáo Phận họp tại Toà Giám Mục, các nơi sau đây được công bố là giáo xứ chính thức : ( ở đây chỉ ghi hạt Phú Yên )

Mằng Lăng, Đồng Tre và Tuy Hoà. (Thông tin số 22/1961, trang 13).

STT

HỌ TÊN

NGUYÊN QUÁN

THỜI CHA SỞ

01

Cha Phêrô HUỀ

Phú Điền, Phú Yên

Cha Lacassagne

02

Cha Giuse Trần NHI

Triều Thủy, Phú Yên

03

Cha Antôn BẢN

Khánh Mỹ, Khánh Hoà

04

Cha F.x. HƯƠNG

Tân Dinh, Bình Định

05

Cha Phêrô CAO

Nước Nhỉ, Bình Định

06

Cha PHỤC

Làng Sông, Bình Định

07

Cha Antôn Linh

Nam Bình, Bình Định

Cha Wendling

08

Cha Giuse DỤNG

Tân Quán, Bình Định

09

Cha Antôn CẨM

Hà Dừa, Nha Trang

10

Cha Phêrô Lê CHÂU

Gia Hựu, Bình Định

11

Cha Micae THIÊN

Hoà Mục, Bình Định

12

Cha Philip KHIÊM

Gò Găng, Bình Định

13

Cha Phêrô NHO

Tân Dinh, Bình Định

Cha M.J.Jean và

Cha J.M.Porcher

14

Cha Simon LUẬN

Sông Cát, Bình Định

15

Cha Phaolô BƯỜNG

Truông Dốc, Bình Định

16

Cha Giacôbê Nguyễn Đình Thuận

Trà Kiệu, Quảng Nam

Cha Giacôbê Dung

17

Cha Martinô Nguyễn Hộ

Tân Quán, Bình Định

18

Cha Aug. Nguyễn Thanh Long

An Chỉ, Quảng Ngãi

19

Cha Joan Suất

TrungTín , Quảng Ngãi

20

Cha Tôma Trần Ngọc Hườn

Trà Câu, Quảng Ngãi

21

Cha Gioakim Huỳnh Văn Hóa

Suối Nổ, Bình Định

Cha Phaolô Chánh

22

Cha Phêrô Trần Anh Tước

Vân Đoả, Quảng Nam

23

Cha Giacôbê Nguyễn Thanh Liêm

Gò Thị, Bình Định

24

Cha Phaolô Võ Hữu Tư

Suối Nổ, Bình Định

Cha Phêrô Tịch

25

Cha Phaolô Nguyễn Tấn Lạc

Chợ Mới, Nha Trang

Cha Gioan Như

STT

HỌ TÊN

GHI CHÚ

THỜI CHA SỞ

01-08

Thầy BA HIỆP, Thầy ĐỊNH, Thầy HỨA, Thầy CẬY, Thầy CHÂU, Thầy NHI ( Lm 1893), Thầy SÔ, Thầy TÀI.

Thầy Đại Chủng Viện

Cha Lacassagne

09-21

Thầy CÁCH, Thầy SANG, Thầy HIỆU, Thầy QUẢNG, Thầy HẠNH, Thầy CHẨN, Thầy THẾ, Thầy HIỂN, Thầy CAO (Thụ phong linh mục đổi tên là cha Luận, quê Sông Cát), Thầy THIẾT(Trà Câu), Thầy LAI, Thầy PHÒ, Thầy THÀNH

Thầy Đại Chủng Viện

Cha Wendling

22

Thầy SÂM ( Quảng Nam )

Thầy Đại Chủng Viện

Cha M.J.Jean

23

Thầy LOAN ( Quảng Ngãi )

Thầy Đại Chủng Viện

24

Thầy TRÍ ( Bình Định )

Thầy Giảng

Cha Giacôbê Dung

25

Thầy LY ( Quảng Nam )

Thụ Phong LM 1939

26

Thầy VINH ( Tân Dinh )

Thầy Giảng

27

Thầy SEN ( Quảng Ngãi )

Thầy Giảng

28

Thầy SỒ ( Gò Dài )

Thụ Phong LM 1943

29

Thầy CHÁNH

Thầy Đại Chủng Viện

Cha Phaolô Chánh

30

Thầy THIỀU ( Gò Dài )

Đã thụ phong LM

31

Thầy MARC

Dòng Thánh Giuse

Cha Giuse Tịch,

Cha Phêrô Lưu,

Cha Phaolô Ngoan

32

Thầy AMBROISE

33

Thầy DOMINIQUE

34

Thầy SÉRAPHINE

35

Thầy BONIFAC

36

Thầy LUC

37

Thầy LÂN

Thầy Đại Chủng Viện

Cha Antôn Mầu

38

Thầy Phêrô Hoàng KYM

Thụ Phong LM 1965

Cha Phaolô Bàn

39

Thầy Micae Nguyễn Tri PHƯƠNG

Thụ Phong LM 1969

40

Thầy Phaolô Nguyễn Minh CHÍNH

Thụ Phong LM 1997

Cha Phêrô Bích

41

Thầy Phanxicô Phạm Đình TRIỀU

Thụ Phong LM 2002

Cha Phaolô Chính

STT

HỌ TÊN

GHI CHÚ

THỜI GIAN

01

Antonia Nguyễn Thị BẢO

1975 – 1982

02

Clara Mai Thị Mỹ XOA

1975 – 1982

03

Marie Consolata Trần Thị Bích NGỌC

1978 – 1997

04

Barthélémie Trần Thị Bích LIÊN

1976 – 1977

05

Jérémia Nguyễn Thị TƯƠI

1976 – 1994

06

Maria Nguyễn Thị Ngọc ÁNH

1982 – 1993

07

Maria Nguyễn Thị NGHIỆP

1987 – 1989

08

Sophia Nguyễn Thị Ngọc LAN

1987 – 1989

09

Brigitte Nguyễn Thị Trọn

1997 – 1998

10

Maria Võ Thị Thu THỦY

1992 – 1996

11

Mađalêna Bùi Thị Thanh HUYỀN

1996 – 1998

12

Léonie Nguyễn Thị NGỜI

1998 – 2002

13

Lucia Trần Thị QUYỀN

1999 – 2001

14

Matta Phan Thị THANH

1998 – 2000

15

Cêcilia Nguyễn Thị Thu THỦY

1996 – 1997

16

Matta Nhuyễn Thị THỦY

1997 – 1998

17

Anna Hồ Thị HẠNH

2002 -

18

Anna Lê Thị Nhị DUNG

2001 -

STT

HỌ VÀ TÊN

GIÁO HỌ

NĂM SINH

CHỊU CHỨC

NƠI LÀM VIỆC

01

Gioakim Đạt

Quán Cau

1821

1865

Chết 1902

02

Phêrô Nguyễn Văn QUYỂN

Mằng Lăng

1897

1929

Chết 1997

03

Phêrô Nguyễn Vĩnh LƯU

Mằng Lăng

1908

1937

Chết 1968

04

Giuse Nguyễn Tấn CHÂU

Chợ Mới

1945

Chết 1952

05

Phêrô Nguyễn HOÀNG

Mằng Lăng

1920

1958

KonTum

06

Phêrô Nguyễn Kim THĂNG

Chợ Mới

1958

1995

Nha Trang

07

Tôma Lê Trung KHUÊ

Hội Tín

1957

1991

Hoa Kỳ

08

Aug. Nguyễn Văn PHÚ

Hội Tín

1968

2002

Phú Yên

09

Tôma Nguyễn Công BINH

Hội Tín

1970

2002

Phú Yên

2. Các tu sĩ :

STT

HỌ VÀ TÊN

GIÁO HỌ

DÒNG

GHI CHÚ

01

Tađêo Trần Tấn ĐẠO

Mằng Lăng

Chúa Cứu Thế

02

Tađêo Dương THA

Gò Chung

Chúa Giêsu

03

Dì LẠI

Mằng Lăng

Phước Viện

Chết

04

Dì CHẲN

Mằng Lăng

Phước Viện

Chết

05

Sophia Nguyễn Thị Ngọc LAN

Chợ Mới

MTG Qui Nhơn

Chết 2001

06

Jacintha Nguyễn Thị SEN

Xóm Làng

MTG Qui Nhơn

07

Bénigna Bùi Thị LÀNH

Mằng Lăng

MTG Qui Nhơn

08

Maria Nguyễn Thị Ngọc ÁNH

Chợ Mới

MTG Qui Nhơn

09

TêrêxaTháiThịHuyềnLINH (Lợi)

Chợ Mới

MTG Qui Nhơn

10

Maria Trần Thị Đan TÂM

Mằng Lăng

MTG Qui Nhơn

11

Maria Nguyễn Thị Tuyết HỤÊ

Hội Tín

MTG Qui Nhơn

12

Ysave Đặng Thị Bích TRÂM

Mằng Lăng

MTG Qui Nhơn

13

Anna Ngô Thị Kim CHUNG

Đồng Cháy

MTG Qui Nhon

14

Anna Phạm Thị Thu NGA

Mằng Lăng

MTG Qui Nhơn

15

M.Madalena Lê Thị NỮ

Mằng Lăng

MTG Qui Nhơn

16

Ysave Nguyễn Thị Tuyết Thanh

Mằng Lăng

MTG Qui Nhơn

Nhà Tập

17

Luxia Trần Thị Mỹ LINH

Chợ Mới

MTG Qui Nhơn

Nhà Tập

18

M.Bénigna Mai Thị ÁNH

Mằng Lăng

Nữ Vương Hoà Bình

19

Jean B.t. Nguyễn Thị THƯƠNG

Mằng Lăng

Đức Bà Truyền Giáo

20

Maria Dương Thị LÊ

Gò Chung

MTG Thủ Thiêm

21

Matta Nguyễn Thị Hoàng THI

Xóm Làng

MTG Thủ Thiêm

Nhà tập

22

Anna Nguyễn Thị Tuyết TRINH

Mằng Lăng

MTG Thủ Thiêm

Nhà Tập

23

Matta Phạm Thị Bích THỦY

Mằng Lăng

Phaolô Đà Nẵng

24

Maria Nguyễn Thị Thúy HẰNG

Mằng Lăng

MTG Nha Trang

25

Anna Trần Thị Khúc CA

An Xuân

Đa Minh

Trải ngót 400 năm phát triển của giáo xứ, từ một tia sáng đức tin manh nha loé lên để rồi dần dần lan toả khắp miền trong tỉnh như hiện nay, mảnh đất này đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình là đón nhận và gieo vãi hạt giống Tin Mừng. Hưng thịnh rồi suy tàn, sự không vững bền đã được Thiên Chúa xếp đặt trong mọi sự vật để nhắc nhớ rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng Trường Tồn và Bất Biến. Tuy nhiên, trong khi tìm kiếm Thiên Chúa Vĩnh Hằng, người giáo dân Mằng Lăng không ngừng tiếc nuối thời gian hào hùng đã qua. Hào quang sáng chói nhất trên vùng trời giáo xứ vẫn là Chân Phước Anrê Phú Yên, người đã làm rạng danh cho giáo xứ trên khắp thế giới, đã được Đức Gioan Phaolô II nhắc tên như một mẫu gương đức tin sống động cho giới trẻ toàn cầu trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 17 tại Toronto, 2002. Vì thế, trong khi nỗ lực sống đạo cho xứng với di sản tinh thần cha ông để lại, người giáo dân Mằng Lăng mong muốn phục hồi lại những gì đã mất, những chi họ mang những địa danh mà ngày nay chỉ còn nghe nhắc đến tên , bởi lẽ đó cũng là những di sản mà cha ông đã khổ công gầy dựng.

  • Untitled
    Kỷ niệm 350 năm thầy giảng Anrê Phú Yên, 26.7.1994, “ngày giáo lý viên Việt Nam” lần thứ nhất Em rao lanh lảnh bánh mì cá, Bánh mới ra lò, cá mới kho. Nghe chị giảng bài, em thấy lạ, Hiên ngoài em đứng, mắt giương to. Kìa chị kể về em đấy sao ? Đúng rồi, hôm ấy tựa chiêm [...] […]
  • Mùa phượng năm ấy
    Mấy trăm năm qua rồi mùa phượng đỏ Nay lại về sắc đỏ của phượng rơi. Anh ra đi giữa mùa hè dịu vợi, Dòng máu tươi thắm nhuộm giữa lưng trời. Anh hiên ngang ngẩng mặt với cuộc đời, Nét thanh thản chẳng gì làm nao núng. Ba nhát gươm làn tim thâu không đúng, Với hai lần mã tấu chém [...] […]
  • tiếng vọng
    Với những chiều như bao chiều lộng gió, Ngước mắt nhìn thổn thức chốn trời cao Anh đứng đó trong vòng tay vẫy gọi, Mắt tuôn trào ôi sung sướng biết bao. Anh đã chết nhưng anh đâu đã chết, Anh vẫn còn trong tiếng vọng tình yêu. Khi hiến trọn anh nhận được hơn nhiều Phúc vinh quang trên bước đường [...] […]
  • Dõi bóng thầy Anrê Phú Yên
    Đẹp biết bao dáng Môi-sê trên núi Tay vươn cao như thẳng tới nước trời. Đẹp biết bao tư thế một con người Quỳ cầu nguyện dẫu đầu rời khỏi cổ ! Thầy Anrê – Tên Thầy không biểu lộ Nhưng tình yêu Thầy chiếu tỏ khắp nơi. Danh Giêsu Thầy chúc tụng không ngơi, Thấm vào máu, dâng trào đời Tử [...] […]
  • Anrê Phú yên
    Trở lại giữa Hội An lịch sử Mắt nhìn trờ môi cất tiếng ca vang … Đem máu đào rửa một đời lâm lụi, Để từ đây vọng mãi tiếng vinh quang. […]
  • Những điểm tương đồng giữa hai người chứng : Anrê Kim thông và Anrê Phú Yên
    Tên tuổi của thày giảng An-rê Phú Yên gắn liền với vinh dự của người kitô hữu việt nam đầu tiên của giáo đoàn Đàng Trong, đã dám đổ máu đào để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giê-su Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để hoàn tất những điều mà Thiên Chúa đã hứa trong lịch sử và mở ra cho con người con đường về với Thiên Chúa Cha. […]
  • Anrê Phú yên, người trẻ trước những thách đố cho tương lai cuộc đời
    Sau gần bốn thế kỷ, ánh sáng của một vì sao đã chiếu đến mặt địa cầu : Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước ! Tiểu sử đời anh không ai biết gì hơn ngoài chứng từ của cha Đắc Lộ. Vị thừa sai nầy đã đưa anh vào đời sống niềm tin Kitô [...] […]
  • Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Chân Phước Anrê Phú Yên
    Trong Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã tuyên phong 44 Chân Phước tử đạo, trong danh sách có tên thầy giảng Anrê Phú Yên. Khi đạo Công giáo được truyền bá vào Việt Nam, nhiều thế hệ thầy giảng đã sát cánh cùng các vị truyền giáo ngoại quốc để đi rao giảng Tin Mừng cho đồng bào của mình. […]
  • Bản tường trình về cuộc tử đạo của thầy Anrê
    Mặc dầu chúng tôi hết sức khẩn khoản và dùng mọi lý lẽ trình với Quan Nghè Bộ, nhưng không thể nào làm cho quan tha mạng cho thày giảng Anrê vinh hiển. Thực vậy, Quan Nghè Bộ phàn nàn về các câu trả lời rất thẳng thắn của Thày giảng và nói: “Anh ta thật bạo gan khi trả lời với tôi rằng anh là Kitô hữu và tôn thờ Chúa Tể Trời Đất, và vì thế, anh sẵn sàng hiến […]
  • Thầy giảng Anrê Phú yên, vị tử đạo tiên khởi của nước Việt Nam
    Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng. Ba thế kỷ rưỡi trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư […]