Lịch thường niên
March 2010
M T W T F S S
« Oct    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
Cầu nguyện cùng chân phước

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết yêu mến Chúa một cách khiêm nhường như Thầy giảng Anrê Phú yên, lấy tình yêu đáp lại tình yêu, đem sự sống đáp đền sự sống mà trung thành với Chúa đến cùng.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin đặt các việc tông đồ của chúng con dưới sự bảo trợ của Thầy Anrê Phú yên. Xin Chúa hãy tỏ vinh quang Chúa trên tôi tớ Ngài, và chúc lành cho mọi công việc chúng con đang làm được thành tựu như Ý Chúa muốn.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.

Archive for the ‘Viết về chân phước Anrê’ Category

Những điểm tương đồng giữa hai người chứng : Anrê Kim thông và Anrê Phú Yên


T
ên tuổi của thày giảng An-rê Phú Yên gắn liền với vinh dự của người kitô hữu việt nam đầu tiên của giáo đoàn Đàng Trong, đã dám đổ máu đào để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giê-su Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để hoàn tất những điều mà Thiên Chúa đã hứa trong lịch sử và mở ra cho con người con đường về với Thiên Chúa Cha.


Nếu lời chứng của cha
Đắc lộ, được ghi lại trong “Cái chết vinh quang của Thày giảng An-rê thuộc xứ Đàng Trong, người đầu tiên đổ máu đào vì cuộc tranh cãi về Chúa Giê-su Kitô, trong Giáo Hội mới này” và trong bản “Tường trình về cái chết vinh quang của Thày giảng An-rê tử đạo tiên khởi xứ Đàng Trong ngày 26 tháng 7 năm 1644″ , được đón nhận như là một lời chứng lịch sử của người thầy biết rõ và làm chứng một cách trung thực về cuộc đời và cái chết của người học trò yêu dấu, An-rê Phú Yên quả là một con người đã được Chúa chuẩn bị từ trước, với tất cả những điều kiện thuận lợi, để trở thành của lễ đầu mùa dâng lên Thiên Chúa trong công cuộc truyền giáo tại miền Viễn Đông này.


Tìm hiểu về
đời sống của thầy giảng An-rê Phú Yên qua ngòi bút trình bày của nhà nghiên cứu Phạm Đình khiêm trong cuốn “Người Chứng Thứ Nhất”, một ý tưởng chợt thoáng qua trong đầu tôi :”hình như lời chứng của An-rê Phú Yên làm tôi liên tưởng đến lời chứng của một ai đó″. Ý tưởng này thôi thúc tôi chìm sâu vào trong những trang sách kể về sinh hoạt của Giáo Hội lúc khởi đầu của thánh sử Luca, và rồi tìm thấy ở đó lời chứng của vị Tử Đạo đầu tiên của Giáo Hội : Têphanô.


An-rê, một người trẻ việt nam,
được nuôi dưỡng và lớn lên trong bầu khí đượm tính truyền thống của dân tộc, được tiếp xúc với Tin Mừng của Đức Giê-su Kitô, thầy đã khám phá ra nơi vị Thầy Chí Thánh điều mà nền giáo dục truyền thống trước đây chưa thể làm đầy : “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy đem sự sống báo đền sự sống”. Têphanô, một người do thái thấm nhuần cả hai nền văn hoá do thái và hy lạp, “một người đầy lòng tin và Thánh Thần” (CV 6, 5b), biết đọc lại lịch sử thánh một cách tỉnh táo để có thể nhận ra đâu là truyền thống của Cha Ông cần phải giữ và đâu là những điểm của Cha Ông mà mình cần phải điều chỉnh. Chính nhờ đón nhận Tin Mừng của Đức Giê-su và can đảm bước theo Ngài, mà Têphanô khám phá nơi Ngài điều làm cho truyền thống của Cha Ông được nên kiện toàn. Hai con người sống vào hai thời điểm khác nhau và trong hai nền văn minh không giống nhau, nhưng có cùng chung một sự nhận thức và chung một lời chứng. Để có thể nhận ra được những điểm tương đồng giữa hai vị chứng nhân tiên khởi của hai Giáo Hội, chúng ta thử lướt qua cuộc đời và lời chứng của mỗi vị, rồi sau đó rút ra những bài học cần thiết cho đời sống của người kitô hữu hôm nay.

I/ An-rê Phú Yên, hoa trái của sự gặp gỡ giữa truyền thống và Tin Mừng

Đọc những lời chứng của cha Đắc Lộ về người thanh niên trẻ tuổi đầy nhiệt huyết này, ta có thể thấy được tầm ảnh hưởng của nền giáo dục gia đình truyền thống việt nam trong việc chuẩn bị cho người trẻ này đón nhận Tin Mừng như thế nào.


Cha
Đắc Lộ nói về thầy như sau : “Thầy bản tính hiền lành, trong sạch, ngay thật, rất có khả năng chịu mọi tác dụng của ơn thánh hoá” . Những đức tính tốt mà cha Đắc Lộ nói về người học trò của mình không phải là những nhân đức “Đối Thần”, nghĩa là những nhân đức mà người ta chỉ có thể tập luyện được khi người ta có được ơn thánh sủng, nhưng là những nhân đức mà con người, nhờ việc giáo dục đời sống nhân bản, có thể đạt được. Đây là một trong những điểm căn bản của nền giáo dục gia đình việt nam và cũng là những điểm mà “Bài Giảng Trên Núi” mời goi mọi người hướng tới :


“Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ
được Đất Hứa làm gia nghiệp…
Phúc thay ai khao khát nên người công chính,
vì họ sẽ
được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ
được nhìn thấy Thiên Chúa…” (Mt 5, 1-12).

Được biết Chúa Giê-su, An-rê không muốn giữ Ngài lại cho mình, nhưng muốn được chia sẻ niềm vui này với bao anh chị em khác đang sống trên cùng mảnh đất quê Cha đất Tổ. Tinh thần chia sẻ này phải chăng cũng là hệ luỵ của tinh thần tương thân tương trợ, chia cơm sẻ áo, thấm nhuần từ kinh nghiệm của người đã từng được nuôi dưỡng trong truyền thống của một gia đình mà trong đó mỗi thành phần không đóng kín trên chính mình, chỉ biết nghĩ đến mình, nhưng biết đặt niềm hạnh phúc của mình trong tương quan với những thành phần khác chăng ?


Gia nhập hội “Thầy Giảng”, ngoài các môn học về tu
đức và giáo lý, các thầy còn phải học về văn chương, cũng như kinh điển để có kiến thức cần thiết trong việc trình bày niềm tin kitô giáo cho anh em đồng bào. Về mặt này, An-rê có vẻ trổi vượt hơn các bạn trẻ khác. Cha Đắc Lộ nói :”.. An-rê học hành có kết quả đến nỗi Y-nha-xô phải nói với tôi rằng : trong tất cả các môn sinh, không một người nào đọ kịp trí tuệ của An-rê; thầy linh lợi thông minh học đâu hiểu đó″ . Không những tiến bộ về mặt trí thức, An-rê còn tiến bộ rất nhiều về mặt nhân đức, đến nỗi chỉ sau một thời gian ngắn sống trong hội thầy giảng, điều mà cha Đắc lộ nhận ra nơi thầy trước kia, cũng được các anh em sống chung trong nhà nhận ra :”An-rê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn thầy đã biểu lộ ra ngoài; thầy sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ; thầy có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người, khiến ai cũng đều cảm phục” . Bên cạnh tư thái hiền hậu mà cha Đắc Lộ đã đề cập lúc đầu, trong đoạn này, ngài nói thêm hai điểm sáng nữa của An-rê : “đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người”. Đức vâng lời và lòng kính trọng tha nhân không phải là một trong những điểm căn bản trong nền giáo dục của gia đình việt nam : “kính trên, nhường dưới; trên thuận, dưới hoà” đó sao ?


Đã quen trong đời sống của gia đình nông thôn, ngay từ nhỏ mỗi người một việc, mỗi người cố gắng làm tròn bổn phận của mình, nên An-rê trong đời sống cộng đoàn luôn chứng tỏ một tinh thần trách nhiệm phục vụ cao độ. Mặc dù mang dáng dấp một con người nhỏ bé yếu đuối, thầy An-rê vẫn cố gắng tham gia vào sinh hoạt cộng đoàn như một thành phần tích cực, không nề hà bất kỳ một công việc nào :”Người thầy không mạnh khoẻ gì lắm, thế mà việc khó mấy trong nhà, thầy cũng làm luôn, nhiều khi lại làm quá sức mình; thầy quên mình để giúp người khác” .


Sau khi
đã được tuyên khấn, và đặc biệt là khi các thầy phải đi truyền giáo một mình vì cha Đắc Lộ đã đáp tầu đi về Áo Môn vào tháng 09 năm 1643, An-rê tham gia tích cực vào công việc truyền giáo. Bên cạnh thầy I-nha-xô thông thái và lợi khẩu, An-rê chứng tỏ là người phụ tá cần mẫn và năng động, thầy làm tất cả những diều mà một người môn đệ yêu mến conđường phục vụ của mình sẽ làm với tất cả lòng quảng đại : “Thày An-rê đặc biệt chăm chỉ đi theo thày giảng sốt sắng Y-nha-xô trong mọi hoạt động vì lòng bác ái, thày đến tận kinh đô xứ Đàng Trong, ở đó riêng mình thày làm việc bằng nhiều kẻ khác….. Thày giảng đạo cho người ngoại giáo, dạy dỗ kẻ tân tòng, dọn dẹp nhà thờ rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ những ngày lễ lớn quanh năm, khéo léo đến nỗi làm cho các bổn đạo tăng thêm lòng sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính những mầu nhiệm của đạo” .


Trong
đời sống cộng đoàn, thầy tận tuỵ giúp đỡ mọi người; trong cuộc sống thường ngày, thầy luôn sống trong hiền lành và khiêm tốn; thế nhưng khi cơn ba đào xô đến, khi thầy cần phải bảo vệ niềm tin của mình và bảo vệ những anh em đang bị đau yếu, thầy can đảm và khẳng khái như một người sĩ quan nơi trận tuyến. Vì thế, khi binh lính, theo lệnh của ông Nghè Bộ, đến nhà của các thầy để lùng bắt thầy I-nha-xô; nhưng lúc đó thầy I-nha-xô đi vắng, chỉ còn An-rê ở nhà săn sóc bốn thầy đang đau bệnh, thầy An-rê không khiếp đảm chạy trốn, nhưng dám can đảm gánh lấy trách nhiệm về phần mình. Thầy bạo dạn ra gặp bọn lính và nói:”Nếu các ông muốn bắt thầy Y-nha-xô thì vô ích, vì Y-nha-xô không có ở nhà. Còn muốn bắt tôi thì rất dễ dàng : tôi là giáo hữu, hơn nữa là thầy giảng. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho thầy Y-nha-xô để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội thì làm sao tôi vô tộiđược” . Ngay cả khi bị bắt giải đi, thấy lính lôi một thầy đang đau ra định bắt giải đi với mình, An-rê trước phản đối, sau thuyết phục ngọt ngào, khiến cho bọn lính cũng phải thả thầy kia ra.


Đứng trước quan Nghè Bộ, thầy thanh thản và cương quyết trả lời từng câu hỏi của quan. Khi được yêu cầu “phải bỏ đạo Bồ Đào Nha mà trở lại đạo nước nhà mình. Nghĩa là bỏ Đức Giê-su mà theo đạo Thích Ca. Thầy ấy thưa rằng : thà chịu mọi sự khó mà chẳng thà bỏ đạo rất thánh mình đã chịu. Vì chưng mình ước ao chịu chết cho được cám ơn trả nghĩa Chúa Trời đất đã dựng nên mình cùng đã chịu chết vì mình” .


Cần phải ghi nhận thêm một vài
điểm trong quan niệm của ông Nghè Bộ. Là vị quan triều đình, nhưng có lẽ hoặc là do ông bị ảnh hưởng của Phật giáo, hoặc là xã hội việt nam lúc đó thấm nhuần tinh thần của đạo Phật, nên ông đồng hoá một cách dễ dàng “đạo nước nhà mình” và Phật giáo. Hơn nữa, khi ông coi đạo của những người Bồ Đào Nha là đạo nghịch với “đạo nước nhà mình” là ông đặt ở thế đối đầu giữa hai tôn giáo này. Thế nhưng, trong dòng lịch sử, cho đến nay chưa bao giờ truyền thống việt nam chính thức mặc cho mình một tôn giáo nào cả. Có thể có những người Việt Nam trí thức và quyền thế thích tôn giáo này hay tôn giáo khác, tư tưởng này hơn tư tưởng khác, nhưng họ chỉ là những người có ảnh hưởng trên xã hội việt nam trong một thời gian ngắn. Tư tưởng của họ không phải là Truyền Thống của người Việt Nam, và vì thế, cũng không thể gọi là đạo nước nhà mình được. Trong lịch sử, xã hội việt nam rất bao dung với các tôn giáo. Bất kỳ tôn giáo nào giúp cho con người xây dựng được đời sống của mình một cách có ý nghĩa và giúp cho xã hội được sống hài hoàđều được người Việt Nam đón nhận một cách trân trọng. Cho đến khi Kitô giáo được du nhập vào Việt Nam, truyền thống Việt Nam vẫn thao thức đi tìm kiếm cho mình một con đường giúp cho mình phát triển trên nguyên tắc “sống thuận lòng Trời, hợp lòng người”. Tinh thần “Đạo hiếu” của truyền thống Việt Nam chỉ có thể tìm thấy câu trả lời đích thực của mình trong khi đón nhận niềm tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Nhập Thể Làm Người để chỉ cho chúng ta cách thế sống đẹp lòng Chúa nhất. Chính khi sống trong Đức Kitô, người Anh Cả của mọi loài thụ tạo, mà người kitô hữu có thể sống với Thiên Chúa Cha trong tâm tình con thảo. Vì thế, khi nghe quan Nghè Bộ dụ dỗ trở về với đạo nước nhà mình, An-rê vẫn giữ vững lập trường, vì thầy biết rằng chính niềm tin vào Đức Kitô sẽ thổi vào truyền thống Việt Nam luồng sinh khí mới, để truyền thống này có thể đạt tới vẻ đẹp viên mãn của mình.

Khi các tín hữu đến thăm thầy tại nhà lao, An-rê nhắn nhủ :”Hỡi anh em, đối với Chúa Giê-su rất yêu dấu của ta, ta hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết đau khổ vì ta, ta hãy lấy sự sống đáp lại sự sống” . Thầy còn nói thêm : “Các anh em thấy rõ tôi đây đã bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải vì ăn cướp, giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Tể Trời đất và Con Một Người xuống thế chịu chết chuộc tội cho ta. Mọi sự ta có đều do nơi người. Thế mà người ta lại muốn tôi phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ hình phạt nào người ta có thể bắt tôi chịu, tôi chỉ sợ lửa hoả ngục đời đời, là hình phạt dành cho kẻ từ chối không tin thờ Chúa Giê-su Kitô là Đức Chúa Trời thật. Hỡi anh em, anh em hãy coi chừng, đừng từ chối ơn Đức Chúa Trời muốn ban cho anh em, phải liệu sao cho khỏi bị xử phạt đời đời” .


Thầy nóng lòng chờ
đợi giờ phút được lãnh triều thiên vinh quang. Thầy nói : “Tôi tưởng như cửa Thiên Đàng đã mở ra cho tôi, tôi thấy Chúa Giê-su đang đứng trước cửa đó để đón nhận tôi, bao nhiêu thánh Tử Đạo giơ cho tôi mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi! Thiên đàng! Hạnh phúc dường nào! Mau mau cho tôi về Thiên đàng! Tại sao người ta trì hoãn tôi lâu vậy” .


Lúc quân lính tháo gông ở cổ thầy ra
để xuống đất rồi lấy thừng trói ngang người, biết là giờ đã đến, thầy quay lại phía các tín hữu để từ biệt lần sau hết : “hỡi anh em, chúng ta hãy giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giê-su cho đến hết hơi, cho đến trọn đời” .


Và rồi khi người lý hình cầm giáo
đâm thủng ngực, thầy vẫn ngửa mặt nhìn trời, miệng không ngớt kêu tên cực trọng : Giê-su! Maria! Ngay cả khi đầu rời khỏi cổ, tên cực trọng Giê-su vẫn tiếp tục phọt ra nơi cuống họng của vị anh hùng tử đạo. Cha Đắc Lộ nói :”Thánh Danh Giê-su không thể phát ra đàng miệng thầy nữa, thì lại phát ra từ trái tim thầy, ngay đang lúc thôi đập, để tỏ rằng trái tim này dầu có chết, cũng còn giữ mãi Thánh Danh kia, và khi không thể dùng miệng lưỡi mà ca ngợi Tên Giê-su được, thì thầy dùng chính vết thương mình mà ca ngợi Danh Chúa” .


Thầy An-rê
đã ngã xuống trên mảnh đất quê hương của mình để làm chứng cho một tình yêu kỳ diệu “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu”. Dòng máu của Thầy đã làm nảy sinh không biết bao nhiêu là người con của một dân tộc kiêu hùng, những người luôn biết “đem sự sống báo đền sự sống”. Nhìn vào cuộc đời và chứng tá của thầy giảng An-rê, chúng ta có thể thấyđược rằng nền giáo dục truyền thống của gia đình việt nam và ánh sáng của Tin Mừng đã tạo nên được sự hài hoà làm chúng ta liên tưởng đến những yếu tố của âm thanh có thể dệt nên được sự hài hoà của bản giao hưởng tuyệt vời, mà nếu thiếu một trong hai yếu tố này, bản giao hưởng sẽ chỉ là một sự kết hợp của những nốt nhạc không hồn. Nói khác hơn, Tin Mừng đang cần đến truyền thống giáo dục của gia đình việt nam để những “Chữ Viết” (Kinh Thánh) có thể biến thành “Lời” (Lời Chúa), và truyền thống Việt Nam đang cần đến sự bám rễ sâu của Tin Mừng để một thân xác bắt đầu lên tiếng nói. Thực vậy, qua cuộc sống của thầy An-rê, những điều thầy đã được đón nhận trong gia đình đã giúp thầy trở nên miếng đất màu mỡ cho hạt giống đức tin được đơm hoa kết trái, và những gì thầy học được từ Đấng Tử Nạn – Phục Sinh giúp cho thầy có một tình yêu lớn hơn cả tình yêu của chính bản thân mình.

II/ Têphanô, hoa trái của sự gặp gỡ giữa truyền thống và sự hướng dẫn của Thánh Thần (Cv 6, 1 – 8, 1)

Theo lời kể của thánh sử Luca, vào thời các Tông Đồ, các môn đệ tin vào Chúa Giê-su càng ngày càng thêm đông; vì thế, việc quản trị đời sống cộng đoàn ở Giê-ru-sa-lem càng trở nên phức tạp hơn; và các Tông Đồ không thể quán xuyến tất cả những việc này. Những hình ảnh đẹp về một cộng đoàn “chỉ có một lòng một ý” (Cv 4, 32), hoặc trong cộng đoàn này, “không ai phải thiếu thốn… ai nấy được phân phát theo nhu cầu” (Cv 4, 34-35), đã phải nhường lại cho những tiếng phàn nàn của những người tín hữu Do Thái theo văn hoá hy lạp kêu trách những tín hữu Do Thái bản xứ, “vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên” (Cv 6, 1). Những người theo văn hoá hy lạp, thường là những người Do Thái kiều cư sống ở nước ngoài, trở về Giê-ru-sa-lem để mừng lễ theo thông lệ hằng năm, hoặc là những người ngoại giáo có cảm tình với niềm tin vào Thiên Chúa của người Do Thái, nhưng chưa thực sự trở lại Do Thái Giáo, họ thường được gọi bằng tên “những người kính sợ Chúa”(Cv 13, 43; 17, 4). Những người này thường sẵn sàng đón nhận niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh nhờ lời rao giảng của các Tông Đồ.


Đứng trước hoàn cảnh mới này, Nhóm Mười Hai đã triệu tập toàn thể các môn đệ và yêu cầu họ chọn ra trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan để các ngài cắt đặt công việc quản trị cộng đoàn. Họ chọn được bảy người theo tiêu chuẩn trên, đứng đầu là “ông Têphanô, một người đầy lòng tin và Thánh Thần” (Cv 6, 5). Trong nhóm bảy người này có một người dân ngoại quê An-ti-ô-khi-a trở lại đạo. Các Tông đồ đã cầu nguyện và “đặt tay trên các ông” (Cv 6, 6). Từ đây, trong Giáo Hội sơ khai, đã hình thành nhóm Bảy Người, thấm nhuần cả nền văn hoá do thái lẫn hy lạp, bên cạnh nhóm Mười Hai, đa số nghiêng về văn hoá do thái và là những chứng nhân đầy uy tín về Chúa Giê-su “từ khi Ngườiđược ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời” (Cv 1, 21-22).


Được đặt đứng đầu nhóm Bảy Người, ông Têphanô được mọi người biết đến như một người “được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng và dấu lạ lớn lao trong dân” (Cv 6, 8). Có lẽ vì ông thông hiểu văn hoá hy lạp, nên ông thường có những tiếp xúc với những người Do Thái sống trong vùng ảnh hưởng của văn hoá hy lạp, và qua đó ông rao truyền Tin Mừng của Chúa Giê-su cho họ. Và có lẽ hiểu được tâm lý của những kiều bào có lòng yêu mến và tuân giữ Lề Luật của Cha Ông nhưng phải sống ở nước ngoài, vì họ thường có khuynh hướng bảo tồn truyền thống theo cách “bảo hoàng hơn vua”, nên Têphanô, trong khi trình bày Tin Mừng của Chúa Giê-su, muốn chứng minh Ngài đích thực là Đấng được sai đến để hoàn thành lời hứa cho dân tộc Israel. Ông phân tích cách trình bày của các luật sĩ và tư tế đương thời về truyền thống của Cha Ông với mục đích chối bỏ Chúa Giê-su, để rồi đưa ra cách hiểu về truyền thống đích thực của Cha Ông trong dòng lịch sử cứu độ. Sách Công Vụ Tông Đồ 6, 9-10 có thuật lại cuộc tranh luận giữa Têphanô và nhóm này : “Có những người thuộc hội đường gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Ky-rê-nê và A-lê-xan-ri-a, cùng với một số người gốc Ki-li-ki-a và A-xi-a, đứng lên tranh luận với ông Tê-pha-nô. Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông” .


” Lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí
đã ban cho ông Têphanô” là gì nếu không phải là chính Chúa Thánh Thần đã soi sáng trí khôn, để từ ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô, ông có thể làm một bản phân tích và tổng hợp truyền thống của cha ông trong lịch sử, được viết lại trong sách thánh hoặc được truyền miệng lại, rồi đưa ra một nhận định rõ ràng về ý nghĩa của các biến cố mà Chúa đã gởi đến cho dân Ngài trong suốt dòng lịch sử. Chính nhờ sự phân tích và tổng hợp này mà Têphanô, tuy rằng luôn tôn trọng truyền thống của Cha Ông, biết phân biệt đâu là truyền thống cần phải giữ gìn và đâu là truyền thống bị hiểu một cách sai lệch.


Vì không
địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho Têphanô, họ vu oan giá hoạ để làm hại ông trước Thượng Hội Đồng. Chứng gian được đưa ra vẫn là theo mô hình cũ : nói lời phạm thượng đến Nơi Thánh và Lề Luật, muốn thay đổi những tục lệ mà ông Moisen đã truyền lại cho họ. Trước mặt vị Thượng Tế và Hội Đồng, Têphanô đã mạnh dạn trình bày lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã tỏ bày cho nhà Israel, trong đó ông phân biệt rõ ràng những điều thuộc về truyền thống của niềm tin Cha Ông và những điều người ta muốn gán cho truyền thống để bảo vệ cho hành vi sai trái của mình. Chúng ta thử phân tích diễn từ của Têphanô (Cv 7, 2-53) để hiểu rõ điều này.


Từ câu 2
đến câu 37, Têphanô tóm lại một cách súc tích và đầy đủ từ việc Chúa gọi Abraham đến việc Giu-se bị bán sang đất Ai-cập, việc Moi-sen giải phóng dân khỏi cảnh nô lệ ở Ai-cập, vượt qua Biển Đỏ, rồi đưa vào sa mạc. Cho đến lúc này, Têphanô vẫn xếp các Tổ Phụ vào cùng một phía những người nghe theo tiếng Chúa và thi hành thánh ý Ngài. Nhưng từ câu 38 đến câu 50, ông phân tích 2 sự kiện mà qua đó chứng minh là chính Cha Ông đã chống lại, làm sai ý của Chúa muốn trên họ, thay vì phải vâng theo lệnh của Ngài qua trung gian Moi-sen.


Trong sự kiện thứ I (Cv 7, 38-43) , ông phân biệt một bên là Moisen, trung gian giữa Thiên Chúa và dân Ngài, bên kia là “Cha Ông chúng ta”, những người không muốn vâng lời Moisen; “họ
đã gạt ông ra và trong thâm tâm, họ đã quay lại Ai-cập” (c. 39). Thay vì tôn thờ Thiên Chúa, Đấng đã dùng quyền năng để giải phóng họ ra khỏi cảnh nô lệ Ai-cập, họ lại đúc tượng Bò vàng, dâng lễ tế cho ngẫu tượng ấy và ăn mừng công trình do tay họ làm ra. Thờ lạy ngẫu tượng đó là một tội nặng nề trước mắt Thiên Chúa, thế mà Cha Ông họ đã làm. Nếu như cứ tuân thủ theo Cha Ông một cách mù quáng, thử hỏi dân Chúa sẽ đi về đâu ?


Trong sự kiện thứ II (Cv 7, 44-50) , Têphanô so sánh Lều chứng ước, mà Cha Ông trong suốt hành trình sa mạc và trong thời
Đavít đã dùng như nơi Chúa ngự, và ngôi đền do vua Salomon xây dựng nên. Trong khi Lều chứng ước được làm theo mẫu mà Thiên Chúa truyền cho Moi-sen, ngôi đền con người xây cất thì làm theo kiểu mẫu và cách suy nghĩ của con người. Ông đi đến kết luận :”Tuy nhiên, Đấng Tối Cao không ở trong những ngôi nhà do tay người phàm làm ra”.


Cũng cần phải ghi nhận rằng phần cuối của cả hai lần phân tích sự kiện Têphanô
đều trích dẫn lời của các tiên tri. Để chứng minh cho phân tích của mình trong Cv 7, 38-43, ông trích lời Tiên Tri Amos, một người Juda nhưng làm tiên tri ở vương quốc phía Bắc, Israel, vào thế kỷ thứ 8 trước công nguyên. Trong phần thứ II, Cv 7, 44-50, ông dùng lời của tiên tri Isaia, người thi hành sứ vụ tại Giê-ru-sa-lem trong những năm tiếp theo sau biến cố trở về từ cuộc lưu đày Babylone. Trong Kinh Thánh, truyền thống các tiên tri luôn kêu gọi dân Chúa hoán cải tâm hồn, trở về với lựa chọn căn bản của mình từ ban đầu; lựa chọn này thường bị những người lãnh đạo, đại diện là các vua chúa hay các tư tế, giải thích một cách sai lạc theo nhãn quan của con người và kéo dân Chúa đi vào con đường lầm lạc. Trong khi đặt mình vào trong truyền thống tiên tri để phân tích những hành vi của truyền thống Cha Ông, Têphanôđặt mình vào trong truyền thống của những người sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần chống lại với những người sống theo tinh thần thế gian.


Sau khi kết thúc bài diễn từ, Têphanô ngỏ lời với Thượng hội
đồng và những người tố cáo ông rằng họ “luôn luôn chống lại Thánh Thần”, Đấng hướng dẫn lịch sử và con người bước đi trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thái độ chống lại Thánh Thần đã được biểu lộ trong hành vi của Cha Ông họ, khi những người này sát hại các tiên tri được sai đến loan báo việc Đấng Công Chính sẽ đến, và thái độ này cũng được biểu lộ nơi chính họ, khi họ phản bội và sát hại Đức Giê-su Kitô (Cv 7, 51-53).


Nghe những lời của Têphanô, những kẻ chống ông nổi
điên lên, họ nghiến răng căm thù ông; trong khi đó, Têphanô “được đầy ơn Thánh Thần, đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giê-su đứng bên hữu Thiên Chúa (c. 55). Họ nhất tề xông vào ông, rồi lôi ông ra ngoài thành ném đá. Than ôi, một lần nữa họ lại phạm đến Thánh Thần. Trong khi những người này chống lại Thánh Thần, thì Têphanô lại được chìm sâu trong Thánh Thần. Ông không nhìn thấy nơi họ hình ảnh của những người lý hình, những kẻ giết người, nhưng là những người anh em vẫn đang còn chạy trốn tiếng nói của Thánh Thần, hay có thể là chưa sẵn sàng để Thánh Thần hướng dẫn họ. Và vì thế, trong hơi thở cuối cùng, ông vẫn kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” (Cv 7, 60).


Têphanô
đã ra đi. Chính trong chứng từ của ông qua cái chết đau thương mà người ta thấy được rằng một người sống trung thành với truyền thống của Cha Ông dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần có khả năng khám phá ra Chúa Giê-su là Thiên Chúa Hằng Sống. Không những chỉ đón nhận, Têphanô còn để cho Chúa Giê-su thánh hoá đời mình và làm cho ông trở nên giống Ngài. Lời cầu nguyện xin ơn tha thứ cho những kẻ ném đá mình cho đến chết không nói với chúng ta rằng Têphanô đã theo Chúa Giê-su cho đến giây phút cuối cùng của Ngài trên Thập Giá (Lc 23, 34) đó sao ?

III/ Đức Kitô, mẫu gương của hai vị Chứng Nhân

Qua phân tích về cuộc sống và gương chứng nhân của cả hai vị Tử Đạo tiên khởi của hai Giáo Hội, chúng ta có thể rút ra được một vài điểm để tiếp tục suy tư.

Trước hết, Đức Giê-su Kitô không phải là một yếu tố xa lạ với con người và với truyền thống trong đó con người được nuôi dưỡng. Khi Têphanô đặt Chúa Giê-su vào giữa trái tim của truyền thống Cha Ông trong cái nhìn của các tiên tri, ông đã tập hợp được chủ đề và những yếu tố cần thiết để cho những truyền thống trước kia bị phân tán rời rạc nay tạo thành bức tranh tuyệt vời. Chính trong sự đón nhận Chúa Giê-su là Đấng được Thiên Chúa sai đến mà truyền thống Cha Ông chứng minh được rằng Chúa đã và đang dùng họ để mạc khải chính mình Ngài cho thế giới. Khi An-rê Phú Yên hiến đời mình theo tiếng gọi của Chúa Giê-su và trở nên của lễ đầu mùa của Giáo Hội Đàng Trong, anh chứng minh được rằng chính Đức Kitô đã đem lại cho truyền thống của người Việt Nam câu trả lời tuyệt với cho thao thức thâm sâu của mỗi người dân Việt : Sống Tinh Thần Đạo Hiếu.

Thứ đến, khi chấp nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Thế và can đảm bước theo Ngài, người môn đệ đã làm cho mình càng ngày càng trở nên người hơn. Thực vậy, những hậu quả của nguyên tội làm cho con người trở nên ích kỷ, đóng kín cửa lòng mình trước tiếng nói của Thiên Chúa và tha nhân, bây giờ được chữa lành một cách triệt để. “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy đem sự sống báo đền sự sống” hay “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” không phải là những chứng từ hùng hồn cho một tình yêu lớn hơn cả bản thân mình sao ?

Cuối cùng, sự mầu nhiệm mà Chúa thực hiện trên con người không chỉ được thể hiện nơi cuộc sống của hai vị Tử Đạo nói trên, nhưng vẫn tiếp tục tác động trên mỗi người kitô hữu, những người dám chấp nhận tin vào Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và dám để cho Thánh Thần hướng dẫn mình bước đi theo Ngài. Nếu mỗi người kitô hữu hôm nay biết cố gắng để cho tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày nơi chính bản thân mình, đó không phải là tin vui lớn lao cho thế giới này sao ?

LM. Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản

Anrê Phú yên, người trẻ trước những thách đố cho tương lai cuộc đời

Sau gần bốn thế kỷ, ánh sáng của một vì sao đã chiếu đến mặt địa cầu : Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước !

Tiểu sử đời anh không ai biết gì hơn ngoài chứng từ của cha Đắc Lộ. Vị thừa sai nầy đã đưa anh vào đời sống niềm tin Kitô và cũng chính vị thừa sai nầy đã chứng kiến anh chết cách anh dũng vì niềm tin. Đọc bài tường thuật của cha Đắc Lộ ghi lại cuộc tử đạo của Anrê Phú Yên, không ai không thán phục lòng can đảm và đức tin sắt đá của anh. Khi bị hành quyết, anh mới 19 tuổi và mới chỉ sống niềm tin Kitô chưa tròn 4 năm.

Ở buổi tinh sương của Tin Mừng trên quê hương Việt Nam, làm sao một tân tòng như anh có thể lấy một lựa chọn dứt khoát sống sứ điệp Tin Mừng và kiên trì trung thành với lựa chọn nầy, bất chấp cả cái chết ? Người ta nghĩ ngay đến phép lạ. Phải, tử đạo là ơn ban đặc biệt, và Giáo Hội xem cái chết vì đạo tự nó là một phép lạ. Tuy nhiên con đường dẫn đến cái chết đó vị tử đạo phải lần mò với tất cả cố gắng hy sinh của một đời người.

Trước khi máu của Anrê Phú yên đổ ra trên mãnh đất quê hương làm trổ sinh hoa quả đức tin thì hạt mầm đức tin đã tìm được mãnh đất tốt nơi tâm hồn anh rồi. Cuộc đời anh được hai điều may mắn : Một người mẹ đạo đức và một vị Thầy uyên thâm. Chúng ta biết rất ít về cuộc đời của Bà Gioanna, mẹ anh Anrê Phú Yên, nhưng chỉ hai chi tiết nhỏ cũng đủ nói lên tất cả cuộc đời của người mẹ nầy. Tuy chồng bà chết sớm nhưng các con cái đã được bà giáo dục tốt với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Bà đã không để cho con tim có khuynh hướng ích kỷ của một người Mẹ ngăn cản lòng quảng đại đạo đức. Chính bà đã trực tiếp xin cha Đắc Lộ cho Anrê là đứa con út mới 15 tuổi, được theo làm môn đệ cha.

Riêng về cha Đắc Lộ, cuộc đời và sự nghiệp của Cha đã gắn liền với lịch sử Việt nam. Trong lãnh vực loan Tin Mừng, mãi đến ngày nay Giáo Hội vẫn còn phải loay hoay tìm một đáp số cho cuộc gặp gỡ giữa sứ điệp Tin Mừng và văn hóa các dân tộc, mà khoa thần học thường gọi là tiến trình “hội nhập văn hóa” (inculturation), thì gần 4 thế kỷ trước đây, cha Đắc Lộ đã có trực giác nhạy bén – nếu không muốn nói là ân huệ lạ lùng – tìm thấy đáp số cho cuộc gặp gỡ nầy trên quê hương Việt nam. Khi nói đến điều nầy, người ta nghĩ đến chữ Quốc ngữ đã được thành hình do công lao đóng góp lớn của cha, đến ‘Nhà Đức Chúa Trời” hay còn gọi là Hội Thầy Giảng do cha thành lập như một sáng kiến độc đáo thích nghi việc loan Tin Mừng trong bối cảnh xã hội khó khăn. Nhưng đáp số đầu tiên và chính xác nhất của tiến trình hội nhập văn hóa nơi mãnh đất Việt Nam là cuộc sống và cái chết của Anrê Phú Yên, Người Chứng Thứ Nhất của Giáo Hội tại Việt Nam.

Khi còn sống với mẹ, Anrê Phú yên đã được hấp thụ một nếp sống gia đình Việt Nam đạo đức. Khi theo cha Đắc Lộ, thay vì dạy thiên văn và toán học Tây phương, vị thừa sai nầy đã cho các môn sinh của mình học nền lễ giáo Á đông. Trước khi hiểu và sống đạo làm con Thiên Chúa, Anrê Phú Yên đã am hiểu đạo làm người theo nền lễ giáo đó. Nền lễ giáo xây dựng trên chữ “Nhân” (nhân sinh chi đạo), bao gồm các đức tính khác như lễ, nghĩa, trí tín. Trong sách Luận Ngữ, ở đầu chương Tử Hãn, Khổng Tử dạy : không đem chữ nhân nói chung với chữ lợi và chữ mệnh (Tử hãn ngôn lợi dữ mệnh, dữ nhân). Nhân thì không nghĩ đến lợi cho riêng mình. Nhân thì không bị trói buộc vì chữ mệnh, nghĩa là không phải bận tâm sống chết, may rủi. Đạo nhân nầy đã giúp cho anh Anrê có những đức tính nhân bản cần thiết để sống và chết cho niềm tin. Hai đức tính nhân bản nổi bậc nơi anh là lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm.

Tuy chứng từ ghi lại là bà quả phụ Gioanna đã xin cha Đắc Lộ cho cậu út của bà đi theo cha làm môn đệ, nhưng hẳn chính Anrê cũng ước mong điều đó, đúng hơn, chính anh đã thủ thỉ nhờ mẹ xin hộ cho anh. Ở vào thời của Anrê, sức mạnh và vẻ hào nhoáng của thực dân chưa có. Tình nguyện theo vị thừa sai không hy vọng có một cơ hội tiến thân nào, ngược lại chỉ gặp khó khăn, chống đối. Phải có những phút gằng co giữa cuộc sống an thân của một đứa con trai út bên người mẹ góa và bước phiêu lưu với vị thừa sai. Lòng quảng đại đã giúp anh rời mái gia đình, rời người mẹ thân yêu. Nơi căn nhà nhỏ bé ở xóm Lò Giấy, Phú yên, tiếng gọi của Chúa đã thắng vượt những ràng buộc cốt nhục và Anrê Phú yên đã ra đi.

Ba năm sau, tại tỉnh Quảng Nam, niềm tin Kitô đã trở thành đối tượng bị thù ghét. Bà chúa Tống thị, một Herodia trong xã hội Việt nam lúc bấy giờ, tìm mọi cách để triệt hạ niềm tin nầy. Theo lệnh của quan Nghè Bộ là tay sai của Tống Thị, đối tượng tiêu diệt niềm tin Kitô nhắm vào thầy giảng Ignatio. Nhưng khi quân lính ập vào nhà cha Đắc Lộ, thầy Ignatio đi vắng. Anrê Phú Yên phải đối diện với sức mạnh thù nghịch. Anh có thể trả lời một cách đơn giản : thầy Ignatio không có ở nhà. Nhưng với tất cả tinh thần trách nhiệm, anh nhận mình là Thầy giảng như Ignatio và sẵn sàng thay thế chỗ của Ignatio. Thế là anh bị bắt và cuộc hành quyết diễn ra ngay chiều hôm sau.

Lựa chọn và trung thành là những đường nét chính tạo nên dung mạo một vị tử đạo. Lựa chọn và trung thành cũng là bước đi của mọi người đeo đuổi cuộc sống niềm tin. Nhưng chính lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm là nền tảng của việc lựa chọn và trung thành.

Nhiều bạn trẻ hôm nay cảm thấy sợ hải phải lựa chọn và nhất là sợ phải trung thành với những giá trị đạo đức và niềm tin. Phải chăng họ kém quảng đại và thiếu trách nhiệm so với các thế hệ trước ? Không, nhưng có lẽ ngược lại. Chưa bao giờ như hôm nay, giới trẻ tỏ ra quan tâm đến các nhu cầu của người khác, dấn thân vào mọi sinh hoạt nhằm thăng tiến nhân phẩm. Đó là chưa kể rất nhiều bạn trẻ, khi nhìn thấy cảnh nghèo đói trên thế giới đã mơ ước tương lai sẽ tận hiến trọn cuộc đời phục vụ người nghèo.

Tuy nhiên, giới trẻ ngày nay bị lôi cuốn vào cơn lốc của thời “hậu hiện đại” rất đáng lo ngại. Thời “hậu hiện đại” không chỉ được đánh dấu bằng những tiến bộ phi thường của nền văn minh kỷ thuật, nó còn được ghi dấu bằng một tổng hợp tư tưởng tinh vi. Song song với một thế giới đổi thay quá nhanh chóng, có một lối suy nghĩ và hành động rất hấp dẫn, được gọi là “politically correct”. Đây là lối suy nghĩ và hành động vừa ảnh hưởng trên toàn cầu, vừa chi phối từng cá nhân. Trên bình diện toàn cầu, theo lối suy nghĩ và hành động “politically correct”, bây giờ không còn lằn ranh giữa bạn và thù, mọi tranh chấp, khác biệt đều có thể tìm một thỏa thuận, một hợp đồng, và mọi hợp đồng đều có thể thay đổi theo hoàn cảnh, các quốc gia phải bận tâm đến những liên đới rộng lớn hơn và các giá trị đạo đức không nhất thiết phải là những điểm đối chiếu căn bản. “politically correct’, trên bình diện cá nhân, mỗi người hành động đặt tiêu chuẩn trên lý tưởng mình tự chọn, phù hợp và lợi ích cho hoàn cảnh thực tế.
Lối suy nghĩ và hành động nầy hấp dẫn thế hệ trẻ không chỉ vì tính cách mới mẻ – được coi như là ‘made in U.S.A” – , nhưng còn bởi những ưu tư nó đề ra. Bây giờ không còn là thời phải bận tâm đến chuyện đạo đức cá nhân, đến tương quan giữa người với người một cách riêng rẽ, nhưng là vấn đề liên đới trách nhiệm trong môi sinh, năng lượng, bình đẳng….

Thực tế, “politically correct” là con đẻ, là tổng hợp thực tiễn của chủ thuyết duy hiện sinh (existentialism hay cũng gọi là personnalism) trong triết học và nền luân lý tùy hoàn cảnh (situation ethics). Trong khi đề ra những ưu tư lớn, nó làm mờ dần tính cách vững bền của tiêu chuẩn đạo đức khách quan là lề luật, những giá trị của lễ giáo và niềm. Mất dần những đối chiếu căn bản nầy, “politically correct” dễ đưa tới thái độ thật ích kỷ, có khi vô luân mà tưởng mình hành động khôn ngoan, quảng đại và có trách nhiệm.

Điều đáng lo ngại là những nghịch lý nầy đang trở thành phổ quát nơi giới trẻ. Có những bạn trẻ hăng say lên tiéng chống lại những bất công xã hội, nhưng lại chấp nhận dễ dàng việc ăn cắp vặt hằng ngày của bạn bè cũng như của chính mình, vì coi đó là chuyện nhỏ ! Họ muốn giải quyết những vấn dề toàn cầu nhưng dễ lãnh đạm trước sự dữ đang xảy ra ngay trong nhà mình. Chưa bao giờ câu nói của nhà bác học Albert Einstein trở nên đáng quan tâm như trong thời đại nầy. Câu nói đã được ghi bên dưới di ảnh tưởng niệm cái chết oan nghiệt của hai em Melisa Rosso và Julie le jeune, tại Liège, vương quốc Bỉ, nạn nhân của căn bệnh hưởng thụ tính dục trẻ con (pedofile) : “Thế giới là nơi nguy hiển để sống, không phải vì có những người làm sự dữ, nhưng vì có những người nhìn thấy sự dữ và để nó xảy ra” (Le monde est dangereux à vivre non à cause de ceux qui font le mal, mais à cause de ceux qui regardent et laissent faire).

Nơi nào trên thế giới nhân phẩm, nhân quyền bị xúc phạm thì giới trẻ kịch liệt phản đối ; nhưng những xúc phạm sự sống xảy ra nơi người bạn thân cùng sống trong cư xá hay nơi chính cuộc sống của mình thì thường dễ được làm ngơ hay bao che. Giữa tháng 11 năm 1996, người ta tìm thấy một em be sơ sinh nặng 2 ký 7, dài 51 cm, bị đập vỡ sọ và vất vào thùng rác của khách sạn dọc xa lộ Newark, Delaware gần Nữu Ước. Điều khủng khiếp là, thủ phạm đập chết em bé sơ sinh nầy là chính cha mẹ của em. Cô Amy Grossberg, 18 tuổi, nữ sinh viên mới của trường đại học Delaware và cậu Brian Peterson cũng 18 tuổi, sinh viên mới của đại học Gettysburg, là con của hai gia đình khá giả vùng ngoại ô thành phố New Yersey. Rời gia đình vào nội trú ở khu đại học, cô cậu sống nếp sống tự do của sinh viên thời đại mới. Kết quả là cô Amy Grossberg mang thai. Chiều thứ hai ngày 11 tháng 11, hai người tìm đường đến khách sạn Comfort Inn. Tại căn phòng 220 của khách sạn, đứa con của hai người trí thức trẻ chào đời lúc 4 giời sáng ngày thứ ba 12 tháng 11. Trước khi rời khách sạn trở về đại học, hai người đập nát đầu đứa bé và vất vào thùng rác, nhanh chóng, đơn giản như vất bao giấy của miếng bánh mì sandwich điểm tâm sáng ! (Tuần báo Time, 2 tháng 12 năm 1996).

Brian Peterson và Amy Grossberg là hai người trẻ rất bình thường như bao sinh viên khác ! Đây là một trong muôn vàn trường hợp của lối suy nghĩ và hành động “politically correct” bị mất những giá trị đạo đức làm điểm đối chiếu.

Giữa một thế giới bị chao đảo trong cơn lốc hưởng thụ ích kỷ, và tự do đã trở thành nhãn hiệu độc quyền của trào lưu sống, giới trẻ vẫn còn thao thức sống quảng đại và tinh thần trách nhiệm. Nhưng cần xác tín rằng, lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm không phải là những rung cảm nhất thời, mà là những đức tính nhân bản phải tập luyện mỗi ngày. Chúng không chỉ là những suy nghĩ và hành động theo lựa chọn cá nhân phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, nhưng là suy nghĩ và hành động phù hợp với những điểm đối chiếu đạo đức khách quan.

Lựa chọn và trung thành với sứ điệp Tin Mừng là điều có thể đối với mọi bạn trẻ hôm nay, nhưng cần hai điều kiện : Thứ nhất, sứ điệp Tin Mừng có được nhìn nhận là lý tưởng cho cuộc đời không ? Susanna Tamaro, nữ văn sĩ Công giáo người Ý, trong tác phẩm “Hãy đi đến nơi con tim đưa bạn đến” (Va’ dove ti porta il cuore), khuyên các bạn trẻ một câu đầy ý nghĩa : “Chiến đấu cho một ý tưởng mà không có ý tưởng đó trong mình là một trong những điều nguy hiểm nhất người ta có thể làm” (Lottare per un’ idea senza c’ e un’ idea di sé è una delle cose più pericolose che si possa fare.). Có thể có những bạn trẻ mang danh Kitô hữu rơi vào điều nguy hiểm này hay không ? Thứ hai, lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm là những thao thức của giới trẻ hôm nay, nhưng chúng có được coi là những giá trị nhân bản khách quan và vững bền hay không ? và các giá trị Tin Mừng có được lấy làm những điểm đối chiếu căn bản để suy tư và hành động thể hiện lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm hay không ?

Anh Anrê Phú yên đã để lại cho chúng ta một mô thức sống niềm tin, có sức vượt tháng sức ép của xã hội không thuận lợi với niềm tin nầy. Anh đã tạo cho mình một nếp sống nhân bản vững chắc. Lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm của anh đã tìm gặp một điểm tựa để thuyền đời anh neo bến. Một cuộc “hội nhập văn hóa” đã xảy ra trên cuộc sống của anh. Anh đã lựa chọn và trung thành với niềm tin Kitô. Anh đã mở lối và chỉ cách cho cuộc “hội nhập văn hóa” có thể xảy ra trên đời của các bạn trẻ Việt Nam đi sau anh. Họ cũng biết cách lựa chọn và sống niềm tin Kitô.

(Lm. F.X. Huỳnh Tấn Hải, Na Uy)

Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Chân Phước Anrê Phú Yên

Trong Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã tuyên phong 44 Chân Phước tử đạo, trong danh sách có tên thầy giảng Anrê Phú Yên.

Khi đạo Công giáo được truyền bá vào Việt Nam, nhiều thế hệ thầy giảng đã sát cánh cùng các vị truyền giáo ngoại quốc để đi rao giảng Tin Mừng cho đồng bào của mình.

Mặc dù thầy giảng Anrê Phú Yên chỉ đi rao giảng trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng Đức Tin vững mạnh của thầy đã được lưu truyền cho người Công giáo Việt nam trong hơn 350 năm nay.

Cha Alexander de Rhodes là người đã chứng kiến cuộc bắt bớ, cuộc xử án, cuộc giam giữ cầm tù và cuộc hành quyết thầy Anrê. Cha đã ghi chép lại đầy đủ chi tiết cuộc tử đạo của thầy.

Thầy Anrê sinh năm 1625 tại Phú Yên, là con trai thứ của một bà quả phụ đạo đức.Thầy là người có thể xác yếu đuối nhưng rất thông minh và có một tâm hồn trong sáng luôn hướng về sự thiện. Mẹ thầy đã khẩn khoản Cha thâu nhận thầy làm môn đệ. Thầy học hành rất chăm chỉ và trội hơn các đồng bạn.

Lúc thấy lên 17 tuổi, thầy được chịu phép rửa tội cùng một lúc với mẹ mình. Một năm sau khi chịu phép rửa, thầy trở thành thầy giảng và khấn hứa phục vụ Giáo Hội cho đến trọn đời. Thầy được tử đạo lúc thầy vừa tròn 20 tuổi.

Chúa Nguyễn ra lệnh cấm đạo khi nhận thấy đạo Công giáo bành trướng trong xứ sở. Vào tháng 7 năm 1644, quan Tổng trấn Quảng Nam, ông Nghè Bộ ra lệnh cấm các giáo sĩ ngoại quốc đi truyền đạo và bắt giam các thầy giảng Việt nam.

Vào ngày 25 tháng 7, quân lính được sai đến bao vây nhà Cha Alexander de Rhodes để tìm bắt thầy giảng Ignatius, nhưng thầy đi vắng nên chúng bắt thầy Anrê Phú Yên. Chúng đã đánh đập, trói lại và giải đến quan Nghè và giải thích thầy cũng là một thầy giảng như thầy Ignatius, người này đã đến các làng mạc nói về luật lệ của vua Kitô và khuyến dụ dân làng theo đạo mới.

Trước công đường quan Nghè khuyến dụ thầy Anrê “đừng dại dột mà mang họa vào thân, hãy chối đạo thì sẽ được tha để trở về với gia đình.” Thầy Anrê đã khẳng khái tuyên xưng mình là Kitô hữu và muốn chịu tất cả mọi thứ cực hình chứ chẳng bao giờ chối bỏ những điều mình đã rao giảng. Dù bị hăm dọa dùng những cực hình ghê rợn cũng không làm nao núng ý chí cương quyết chịu chết để bảo vệ đức tin, chấp nhận đau khổ để được chết vinh quang. Thầy Anrê bị khép vào tội tử hình.

Ngày kế tiếp, Cha Alexander de Rhodes và vài thương gia người Bồ Đào nha vào thăm thầy trong nhà tù, thầy tỏ ra rất bình tĩnh và an vui chịu khốn khổ vì Chúa Kitô. Nước mắt rưng rưng họ cầu nguyện cho thầy, thầy xin họ cũng cầu cho chính họ được bền đổ trung thành với tình yêu vô biên của Chúa, “đấng đã hy sinh mạng sống của mình cho nhân loại”. Thầy lập lại ý tưởng đó và kết luận: “Chúng ta hãy trao tình yêu của chúng ta cho Chúa như Chúa đã yêu thương chúng ta, hãy trao mạng sống cho Chúa như Chúa đã chết cho chúng ta.”

Trưa ngày 26 tháng 7 năm 1644, ba mươi người lính đến nhà giam dẩn thầy Anrê ra pháp trường. Thầy cám ơn Chúa đã cho thầy được hy sinh tử đạo, thầy chào từ biệt các bạn tù. Cha De Rhodes xin phép được dùng một chiếc chiếu trải ra nơi hành hình để hứng lấy máu của thầy như phong tục của người Việt nam, nhưng thầy đã từ chối vì muốn máu mình sẽ thấm vào lòng đất quê hương. Thầy tiếp tục khích lệ những giáo dân giữ vững đức tin, đừng buồn về cái chết của thầy, chỉ xin cầu cho thầy được trung tín cho đến giây phút cuối cùng. Một người lính dùng chiếc dáo đâm bên hông trái, một người khác dùng mã tấu chặt đầu trong lúc thầy kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy chứng giám lòng trung tín của con.”

Cha De Rhodes xin nhận lảnh xác của thầy chở về Macao để chôn cất. Khi tàu ở trên biển thì bị bọn hải tặc đánh cướp, tàu đụng phải đá. Như một phép lạ, một tảng đá lớn từ trên núi rớt xuống làm vở đầu tàu rồi rơi xuống biển, làm cho bọn hải tặc bỏ đi và tàu đã chạy được về đến bến bình yên.

Qua nhiều thế kỷ, dù thầy Anrê chưa được phong hiển thánh, nhưng người Công giáo Việt nam luôn tưởng nhớ tôn kính đấng tử đạo thứ nhất đã để máu mình thấm vào lòng đất mẹ, với ước nguyện sẽ sinh hoa kết trái đức tin Kitô cho đến muôn đời.

Phó Tế Huỳnh Mai Trác

Thầy giảng Anrê Phú yên, vị tử đạo tiên khởi của nước Việt Nam

Lm. Phaolo Molinari S.J  (Thỉnh ngyện viên án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê)

Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng.

Ba thế kỷ rưỡi trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức về thầy vẫn không suy giảm; trái lại, tấm gương của Thầy Anrê vẫn là một nguồn mạch nâng đỡ và khích lệ đích thực cho các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam, giúp đỡ họ sống phù hợp và trung thành với đức tin, mặc dù đất nước phải trải qua nhiều thăng trầm phức tạp và khó khăn.

Thực vậy, nếu để ý tới lịch sử sóng gió tại vùng địa lý này, một miền hồi thế kỷ XVII được gọi là Đàng Trong (Cocincina), người ta có thể hiểu tại sao khuôn mặt Thầy Anrê đã và vẫn còn là điểm tham chiếu có giá trị quan trọng: thực vậy, Kitô giáo được phổ biến rộng rãi, ăn rễ sâu và tiếp tục sinh động tại Việt Nam chính là nhờ công lao và hoạt động của bao nhiêu thế hệ thầy giảng, nối tiếp nhau qua các thế kỷ, trong việc phụng vụ Chúa Kitô và Tin Mừng, cả khi các thừa sai bị trục xuất và các linh mục bản xứ không thể thi hành sứ vụ vì những luật bách hại đạo.

Sự hiện diện và hoạt động của các thầy giảng tại Việt Nam có liên hệ tới công trình truyền giáo của một tu sĩ dòng Tên nổi tiếng là cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)(1). Công trình của cha đối với Việt Nam cũng như công trình của cha Matteo Ricci đối với Trung Hoa, và cha Roberto de Nobili đối với Ấn Độ. Cha Đắc Lộ là một trong những vị thừa sai đã biết tạo điều kiện, và hơn thế nữa, đã mang lại cho Việt Nam một trong những đóng góp quan trọng về văn hóa: chỉ cần nhắc đến sự kiện cha Đắc Lộ đã soạn cuốn từ điển đầu tiên về ngôn ngữ đựợc sử dụng tại Việt Nam và phát triển hệ thống chữ viết ngày nay là chữ quốc ngữ.

Chính cha Đắc Lộ là người đã thấy rõ rằng có được các linh mục một cách trường kỳ là một điều rất khó đối với Việt Nam, vì thế, cha đã quyết định khởi xướng và thành lập Hội các thầy giảng, gọi là :Nhà Đức Chúa Trời, trong đó các thành viên quyết tâm, bằng lời hứa chính thức và công khai (một lời thề), trọn đời phụng sự Giáo Hội qua việc giúp đỡ các linh mục và truyền bá Tin Mừng.

số các nguồn sử liệu nói về cuộc đời của Thầy Giảng Anrê trước khi Thầy bị bắt ngày 25-6-1644 và chịu tử đạo sau đó, có hai bản Tường Trình do cha Đắc Lộ viết và được coi là có giá trị nhất. Không nên ngạc nhiên về điều này, vì chính cha Đắc Lộ là người đã biết Thầy Anrê từ lâu và thân thiết hơn bất kỳ người nào khác kể lại chứng từ về thanh niên Việt Nam này.

Những gì chúng ta biết được qua cha Đắc Lộ về Thầy Anrê, về cuộc sống đạo của Thầy trước khi chịu tử đạo, cũng như chính cuộc hành trình Thầy phải chịu, cũng như được xác nhận qua các lời cung khai của những người làm chứng trong cuộc Điều Tra theo giáo luật, diễn ra tại Macao từ ngày 16 tháng 12 năm 1644 đến ngày 13 tháng giêng năm 1645, tức là không đầy sáu tháng sau khi vị Tôi Tớ Chúa bị sát hại. Vì thế, đó là những tin tức đầu tay và hơn thế nữa, rất gần với thời gian Thầy Anrê sống và chịu tử đạo.

Bản Tường Trình thứ nhất của cha Đắc Lộ, ngắn hơn bản thứ hai, đề ngày 1 tháng 8 năm 1644, nghĩa là 5 ngày sau khi Thầy Anrê bị sát hại; bản đó do nhà truyền giáo thời danh soạn ra sau khi đích thân chứng kiến tất cả các biến cố: cầm tù, kết án tử hình và hành quyết Thầy Anrê. Vì vậy, đó là tài liệu cổ kính nhất chúng ta có được về tất cả những sự kiện xảy ra trong những ngày đau thương, 25 và 26 tháng 7 năm 1644. Cha Đắc Lộ giao bản Tường Trình này cho viên thuyền trưởng chiếc tàu Bồ Đào Nha sắp rời Đàng Trong để điMacao. Tàu tới đảo này ngày 13 tháng 8 năm 1644. Qua bản Tường Trình ấy, cha Đắc Lộ thuật lại cho các bề trên ở Macao những gì xảy ra trong công cuộc truyền giáo của cha và đồng thời xin các vị đón nhận di hài Thầy Anrê, mà vì lý do an ninh, cha đã cho chở trên chiếc tàu đó tới Macao (2).

Bản Tường Trình thứ hai, dài hơn và chi tiết hơn, được cha Đắc Lộ soạn sau khi trở về Châu Âu và được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng (3).

Về những gì liên quan tới các dữ kiện thu thập trong Công Vụ cuộc Điều Tra theo giáo luật ở Macao về cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê, cũng nên nhấn mạnh tới một số chi tiết đặc biệt liên quan tới cuộc bắt giam, cầm tù và kết án tử hình vị Tôi Tớ Chúa: các sự kiện này, xảy ra trong vòng 48 tiếng đồng hồ (ngày 25 và 26-7-1644), và không diễn ra kín đáo, trái lại rất công khai. Vì thế, nhiều người đã chứng kiến những sự kiện ấy, nên họ có thể và trong thực tế, họ đã kể lại những tuyên bố chính xác và chi tiết; các chứng từ ấy không thể chê trách được điều gì xét về phương diện pháp lý và lịch sử, do đó chúng rất có giá trị.

Đó là 23 bản cung khai có tuyên thệ được Tòa Án của Giáo Hội ở Macao thu thập: Công Vụ của cuộc Điều Tra này được soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, và theo thói quen của Bộ đặc trách về các án phong thánh, các văn kiện ấy phải được chuyển dịch.

Trong số tất cả các bản cung khai ấy, cần ghi nhận có 7 bản do những chứng nhân tận mắt kể lại, tức là những người đã đích thân chứng kiến không những điều đã xảy ra trước hoặc sau cuộc hành quyết vị Tôi Tớ Chúa, nhưng nhất là chính cuộc hành quyết.

Các bản cung khai khác do 16 nhân chứng gồm những thương gia, thủy thủ, binh sĩ, đến Hội An (Faifo) trên chiếc tàu do thuyền trưởng João de Rezende de Figueiroa điều khiển. Vì thế, họ là những người gần kề nơi hành quyết Thầy Anrê, và do đó, họ biết được cuộc hành quyết do một số nhân chứng tận mắt, và điều xảy ra không phải từ lâu, nhưng chỉ mới vài tiếng đồng hồ sau các biến cố đau thương. Trong số những người đã chứng kiến các biến cố ấy, hiển nhiên là có nhiều người khác, dân chúng địa phương, nhưng vì lý do ngôn ngữ, nên họ không được triệu đến để làm chứng trong Cuộc Điều Tra, xét vì Cuộc Điều Tra này do những nhân vật người Bồ thi hành.

Ngoài những điều được thu thập và ghi nhận trong Công Vụ cuộc Điều Tra theo giáo luật, còn có hai bản cung khai ngoài cuộc điều tra, có chứng thực hẳn hoi, do một khách thương người Ý tên là Orazio Massa, và một người Việt Nam, Louis Đuôn (Duón), hai người đã chứng kiến tận mắt cuộc tử đạo của Thầy Anrê. Nhưng họ không có mặt ở Macao khi diễn ra cuộc Điều Tra và vì thế, họ không thể được triệu tới để cung khai tại Tòa.

Những tài liệu phong phú về cuộc bắt giam, cầm tù, lên án tử hình và hành quyết Thầy Anrê, cũng như về lòng kiên trung trong đức tin của vị tử đạo, quả là một điều hiếm có, nếu như không muốn nói là độc nhất vô nhị, trong việc thu nhập tài liệu về các án phong các vị Tử Đạo: chỉ có một số rất ít trường hợp trong đó các chứng nhân tận mắt, sau khi chứng kiến cuộc tử đạo của một người, cung khai chính thức theo đúng qui luật về những gì họ thấy và nghe được.

***

Thầy Giảng Anrê, gốc tỉnh RanRan (Phú Yên), là con út của một phụ nữ tên thánh là Gioanna. Tuy góa bụa nhưng bà giáo dục con cái với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Anrê là một cậu bé mảnh khảnh, nhưng tư chất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn hướng chiều về sự thiện. Do lời năn nỉ của bà mẹ, cha Đắc Lộ, vị linh mục thừa sai dòng Tên nổi tiếng, đã nhận cậu Anrê vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và chẳng bao lâu trổi vượt các bạn đồng môn.

Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với mẹ ba năm trước khi bà qua đời, tức là năm 1641, khi Anrê được 15 tuổi. Anrê sinh năm 1625 (hay 1626), không rõ ngày tháng, và lúc chịu chết năm 1644, Thầy trạc độ 19 hay 20 tuổi.

Theo các bản Tường Trình của cha Đắc Lộ, một năm sau khi chịu phép Rửa Tội, tức là năm 1642, Anrê được cha Đắc Lộ nhận vào nhóm cộng sự viên thân tín của ngài, và sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê bắt đầu thi hành công tác thầy giảng.

Về tầm quan trọng và sự nghiêm chỉnh của nhóm thầy giảng này, chúng ta có những tin tức rất chính xác, do chính cha Đắc Lộ cung cấp trong một tài liệu ngài gửi cho các bề trên, để tường trình cho các vị về diễn tiến công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong từ tháng 7 năm 1642 cho đến tháng 7 năm 1643. Bên cạnh hai Kitô hữu trưởng thành tận tụy rao giảng Tin Mừng, còn có một nhóm những người trẻ hơn, theo gương các vị đứng tuổi, cũng tuyên thệ công khai tại nhà thờ là sẽ cộng tác vào việc cứu vớt các linh hồn, dưới sự hướng dẫn của các thừa sai hoặc những vị do các ngài chỉ định (4).

Trong số những người trẻ ấy có Thầy Anrê: theo tất cả các văn kiện, và chứng từ đầu tay chúng ta có được, Thầy là một thanh niên đã được Chúa Giêsu Kitô chinh phục, và đáp lại tình yêu Chúa, Thầy tận hiến cho Chúa, và qua đó, thực hành bước tiến căn bản của việc bước theo Chúa Kitô (sepuela Christi) một cách chân thực, hiểu theo nghĩa mạnh nhất của từ này.

Trong nhóm các thầy giảng, Thầy Anrê là nhân vật đứng thứ hai, sau một số thầy đã đứng tuổi; nhưng qua chứng từ của cuộc Điều Tra, người ta biết Thầy Anrê thi hành một công tác quan trọng hơn trong Hội các tín hữu Kitô dấn thân như thế.

Như ta đã thấy rõ qua những biến cố đưa tới cuộc tử đạo của Thầy Anrê, điều hiển nhiên là Thầy đã nhập tâm những nguyên tắc hướng dẫn hoạt động của các thầy giảng và sống các nguyên tắc ấy một cách tận tình.

Khi để ý tới những điều đó, ta sẽ không ngạc nhiên khi đọc thấy một số nhân chứng kể lại trong cuộc Điều Tra về sự tử đạo của Thầy Anrê. Một số nhân chứng ấy đã ba lần gặp Thầy Anrê trong nhà của cha Đắc Lộ, nhân dịp họ du hành đến Đàng Trong; vì thế, họ có thể quan sát cách thức Thầy phục vụ cộng đoàn ở Hội An; lòng nhiệt thành xả thân của Thầy, với tất cả lòng trung thành và hăng say, trong việc giảng dạy đức tin Kitô cũng như trong việc cử hành phụng tự của nhóm các tín hữu. Rồi chính Thầy cũng được nhiều người biết đến như một tín hữu Kitô siêng năng lãnh nhận bí tích Thống Hối và Thánh Thể.

Vì thế, ta có thể và phải kết luận rằng lòng hăng say của Thầy Anrê sống trọn quyết tâm khi chịu phép Rửa đã chuẩn bị cho Thầy can đảm đương đầu với cuộc tử đạo và ngoan ngoãn đón nhận ơn tử đạo Thiên Chúa rộng ban cho Thầy.

***

Dựa trên những tài liệu phong phú đã nói trên đây, chúng ta biết rõ diễn tiến và sự liên kết giữa các biến cố có liên quan trực tiếp tới những ngày cuối cùng của Thầy Giảng Anrê và cái chết anh dũng của Thầy vào ngày 26-7-1644 (5).

Trước cuối tháng 7 năm 1644, Quan Nghè Bộ đã trở lại tỉnh nơi Thầy Giảng Anrê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kitô trong nước, vì thế Quan quyết định hành động trước tiên là chống lại các thầy giảng.

Cha Đắc Lộ, khi biết Quan trở về dinh, nhưng không hề hay biết ý định của Quan, nên tới thăm Quan vì xã giao và để củng cố những quan hệ tốt đẹp đã có trước đó.

Sau khi cho Thầy Anrê được ở lại nhà để săn sóc 4 bệnh nhân tại đó, cha Đắc Lộ xuống thuyền đến dinh Quan Nghè Bộ. Khi đến gần, cha gặp khách thương người Ý Orazio Massa. Nét mặt rất lo âu, ông cho cha Đắc Lộ biết: Quan cùng với các thẩm phán khác, đang âm mưu toan chống lại cha và các tín hữu Kitô, và ông xin cha hãy ẩn tránh, để đừng diễn ra điều đã xảy ra hôm trước cho thầy giảng già, cũng tên thánh là Anrê, thầy ấy đã bị bắt và đang bị cầm tù.

Cha Đắc Lộ, sau khi ra lệnh cho những người tháp tùng hãy mau lẹ trở về, quyết định đến chào thăm Quan và thương thảo của ông. Nhưng Quan cho cha biết rằng chúa Đàng Trong rất giận dữ khi thấy vì cha mà nhiều dân bản xứ theo đạo Kitô. Vì thế cha phải bỏ xứ Đàng Trong để trở về Macao và không được phép dạy giáo lý cho dân bản xứ nữa; còn các tín hữu theo đạo thì bị trừng phạt rất nặng nề.

Thấy rằng thảo luận với Quan từ nay chỉ mất thời giờ, nên cha Đắc Lộ rời dinh Quan Nghè Bộ, đi thẳng xuống nhà tù nơi giam giữ một thầy giảng già 63 tuổi tên là Anrê, mới bị bắt hai ngày trước đó. Cha muốn ở bên cạnh và nâng đỡ thầy trong cảnh ngục tù, thân phận mà thầy chấp nhận trong thanh thản và vui tươi vì lòng yêu mến Chúa Kitô.

Trong khi ấy, một toán lính khác được Quan sai tới nhà cha Đắc Lộ để lùng bắt một thầy giảng khác tên là Ignatio. Nhưng thầy ignatio đã đi làm việc tông đồ trong một thời gian ngắn.

Khi lính ập vào nhà, họ chỉ tìm thấy Thầy Anrê trẻ, để khỏi về dinh Quan Bộ tay không, lính đánh đập Thầy Anrê, trói thầy lại, rồi giải xuống thuyền đem về dinh Quan trấn thủ. Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, Thầy được dẫn tới trước mặt Quan. Lính thưa với Quan rằng họ không tìm thấy thầy Ignatio, nhưng đã bắt được một thầy giảng khác giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kitô và khuyến khích họ theo đạo (6).

Nghe vậy Quan tìm nhiều cách làm cho Thầy Anrê “từ bỏ cái đạo điên rồ đó và bỏ lòng tin”.

“Nhưng thanh niên can trường ấy trả lời Quan rằng mình là Kitô hữu, và rất sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không từ bỏ đạo mình tuyên xưng: vậy xin Quan cứ tùy ý chuẩn bị các hình cụ, tôi vui lòng đón nhận, với xác tín rằng, vì chính nghĩa, càng chịu khổ đau chừng nào thì càng chết vinh quang chừng ấy”. (7)

Tức giận vì sự bất khuất của Thầy Anrê không hề sợ hãi trước những lời đe dọa, Quan truyền đóng gông (8) và giải Thầy vào ngục, cùng nơi giam giữ thầy Anrê già.

Cha Đắc Lộ cho chúng ta biết tâm trạng của hai thầy giảng khi viết rằng: “Thật không thể giải thích được niềm vui của hai tù nhân này lớn lao dường nào khi thấy mình được liên kết với nhau, được vinh dự mang gánh nặng của Thập Giá ấy vì niềm tin nơi Chúa Kitô: những lời chúc tụng họ dâng lên Thiên Chúa vì ân huệ ấy, những cuộc nói chuyện đầy lòng yêu mến, qua đó, họ khích lệ nhau trong mong ước và nhắn nhủ nhau sẵn sàng cho trận chiến tương lai, với những tâm tình sùng mộ khác tương tự như vậy, người ta có thể tưởng tượng dễ hơn là giải thích” (9).

Cha Đắc Lộ và một vài thương gia Bồ Đào Nha tới nhà giam hai tù nhân: Thầy Anrê trẻ thanh thản và vui mừng vì chịu khổ đau vì Chúa Kitô đến độ những người đến thăm Thầy bịn rịn không rời Thầy được, và nước mắt tràn bờ mi, họ xin Thầy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện. Thấy vậy, Thầy tự cười nhạo mình và xin họ cầu nguyện cho Thầy, để Chúa ban cho Thầy ơn trung thành với Chúa cho đến chết, “dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu vô biên của Chúa, Đấng đã dâng hiến mạng sống vì loài người…những lời Thầy lặp lại cho đến chết khi trút hơi thở cuối cùng là:Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống”và Thầy nói điều đó với tất cả lòng yêu mến làm cho Thầy cảm động rơi lệ” (10).

Sáng hôm sau, 26 tháng 7 năm 1644, hai tín hữu Kitô cùng tên Anrê, Anrê già 63 tuổi và Anrê trẻ, cổ mang gông, bị dẫn qua các đường phố đông người qua lại nhất trong thành, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh Quan trấn thủ để bị tra hỏi công kha. Quan trấn triệu tập một vài Quan khác, lôi kéo họ về phía mình và tuyên án tử cho Thầy Giảng Anrê trẻ, rồi ra lệnh dẫn Thầy về ngục thất. Còn thầy Anrê già thì được tha vì lý do tuổi tác nhờ lời xin của cha Đắc Lộ và các thương gia Bồ Đào Nha.

Vào khoảng 5 giờ chiều, một viên chỉ huy cùng với 30 người lính vào nhà tù, nơi vị Tôi Tớ Chúa bị giam giữ, và ra lệnh cho Thầy phải đi theo tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người hiện diện trong tù, Thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính vây chặt chung quanh và dẫn Thầy Anrê đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài thành. Cha Đắc Lộ, nhiều Kitô hữu Bồ Đào Nha và Việt Nam cũng như nhiều người lương đã đi theo và chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa.

Đến nơi hành hình, Thầy Anrê quì xuống. Quân lính vây quanh tứ phía, họ tháo gông cho Thầy và trói hai tay Thầy Iại. Trong khi đó, theo thói quen tại đây, cha Đắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới người Thầy Anrê để hứng lấy máu Thầy, nhưng Thầy Anrê không muốn nhận điều ấy, Thầy muốn máu mình rơi xuống đất, như trường hợp Máu Cực Trọng Chúa kitô đổ ra. Cha Đắc Lộ tôn trọng quyết định của Thầy Anrê và quì xuống bên cạnh Thầy. Trong khi đó, Thầy Anrê nhắn nhủ các Kitô hữu hiện diện hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của Thầy, và hãy giúp lời cầu cho Thầy được trung thành tới cùng.

Cuộc hành quyết Thầy Anrê được thi hành bằng mấy nhát dao đâm thấu cạnh sườn bên trái, và sau cùng khi một người lính sắp dùng đao chém đầu, Thầy lớn tiếng kêu lênGiêsu.

Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trung trong việc chấp nhận dâng hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô.

Sau khi cuộc hành quyết hoàn tất, cha Đắc Lộ, người đã chứng kiến tất cả diễn tiến vụ hành hình kinh khiếp ấy, xin được thi hài của Thầy Anrê và đưa xuống tàu đưa sang Macao và an táng tại đây ngày 15 tháng 8 năm 1644.

Mặc dù tất cả những thăng trầm xảy ra tại Việt Nam từ ngày đó đến nay, các tín hữu Công Giáo Việt Nam không bao giờ quên Thầy Giảng Anrê, và tiếp tục coi Thầy là vị tử đạo đầu tiên của đất nước họ và cầu nguyện, xin Thầy chuyển cầu cho họ nơi tòa Chúa để được sức mạnh can đảm sống phù hợp với đức tin và trung thành với ơn gọi Chúa Kitô.

***

Ý thức về lòng mộ mến sinh động hơn bao giờ hết và đã có từ lâu của các tín hữu đối với Thầy Giảng Anrê tử đạo, các Giám Mục Việt Nam, khi về Roma dự Công Đồng chung Vatican 2, đã xin Đức Thánh Cha Phaolô VI đẩy mạnh án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê; các vị bày tỏ xác tín rằng việc tôn phong này là một trong những phương thế hữu hiệu nhất để phát triển nơi các tín hữu lòng gắn bó sâu xa với Giáo Hội. Các Giám Mục Việt Nam cũng nhấn mạnh sự kiện Thầy Giảng Anrê là một thah niên Công Giáo, từ 16 tuổi, đã dâng hiến cuộc sống để giúp các linh mục trong việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô tại Việt Nam; các Giám Mục nêu bật điều này: tấm gương của Thầy Giảng Anrê, qua thái độ bình thản và cương quyết chấp nhận tử đạo, là một trợ lực mạnh mẽ cho những người giống như Thầy, đang chịu đau khổ để bảo vệ đức tin và trung thành với Chúa Kitô và với Giáo Hội.

Do sự can thiệp trên đây của các Giám Mục Việt Nam, Văn Phòng Thỉnh Nguyện Viên án phong Thầy Giảng Anrê đã quyết tâm thực hiện các cuộc nghiên cứu cần thiết để đẩy mạnh án phong. Rồi vào năm 1997, Văn Phòng đã được Bộ Phong Thánh nhìn nhận Công Vụ cuộc điều tra diễn ra tại Macao trong những năm 1644-1645; sau khi bổ túc các dữ kiện và tin tức mà Công Vụ này mang lại, cùng với thành quả các cuộc nghiên cứu lịch sử thực hiện ở Âu Châu và Á Châu; Văn Phòng Thỉnh Nguyện viên đã soạn Tập Hồ Sơ về cuộc tử đạo, gồm 2 cuốn, và đã đệ trình Bộ Phong Thánh để xin cứu xét. Trước hết, các Vị Cố Vấn Sử Học, rồi với các vị Cố Vấn Thần Học đều đồng thanh bày tỏ ưng thuận và nói rằng bằng chứng cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê thật là rõ ràng.

Phán quyết chung kết này cũng được các Hồng Y và Giám Mục thành viên của Bộ Phong Thánh đồng ý, và Đức Thánh Cha, sau khi được vị Tổng trưởng Bộ Phong Thánh thông báo đầy đủ về kết quả tích cực, đã cho công bố Sắc Lệnh về cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê, và ngài quyết định cho tiến hành lễ phong chân phước tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 5 tháng 3 năm 2000./.


CHÚ THÍCH:

  1. Cha Đắc Lộ, dòng Tên, sinh tại Avignon bên Pháp năm 1591 và gia nhập dòng ở Roma. Được gửi đi truyền giáo tại Viễn Đông, sau khi sống 3 năm tại Ân Độ  và 9 tháng ở Malacca, cha tới Macao năm 1623, bắt đầu học tiếng Nhật để chuẩn bị hoạt động truyền giáo ở Nhật Bản; nhưng rồi cha được bề trên gửi tới phần đất ngày nay gọi là Việt Nam.
  2. Relação do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchina, alenceado, e dogolado em Cachão aos 26 Julho de 1644. Tendo de idade dezanove anos, nguyên văn tiếng Bồ Đào Nha của cha Đắc Lộ, ghi ngày 1.8.1644 tại xứ Đàng Trong: Ms. Marid, Real Acedemia de la Historia, Jesuitas, leg.21 bis, fasc.17, foll. 228-234v (originale?); AHSI, JAP./SIN: 71, foll.262-265; Lisbona, Biblioteca da Ajuda, Jesuistas na Asia, Vol.40/V/13, foll.218v-223.

Relatione del glorioso Martirio di Andrea Catechista Protomartire della Cocinchina, patito alli 26 Luglio 1644, AHSI, JAP./SIN. 69,foll.25-38v.

  1. Martyrium Andreae Cathechistae qui primus in Regno Cocincinae pro Christi fide sanguine fudit a P. Alexandro DE RHODES Societas Jesu descriptum, Ms SHSI, JAP./SIN. 70, FOLL.127-138.

[Alexandre de Rhodes, S.J.], Relatione della morte di Andrea Catechista che primo de Christiani nel regno di Cocincina è stato ucciso dagl+infedeli in odio della fede, alli 26 di Luglio 1644, descritta dal padre Alessandro de Rhodes della Compagnia di Giesu, Roma, per gli Heredi del Corbellitti, 1652, 3 f.+42p. +1 f.[Roma, APSI,e Bibl. Nazioanle Centrale Vittorio Emmanuele II, coll.14.26.E.2; Lisbona, Bibl. Nacional, coll. R14164 V]

[Alexandre de Rhodes, S.J.] La glorieuse mort d+André catéchiste de la Cochinchine, qui a le primier versé son sang pour la querelle de Jesus-Christ, en cette histoire, Paris, Sébastien et Gabriel Cramoisy, 1653, 122p.

[Alexandre de Rhodes, S.J.], Relação de morte do carequista André, proto-martir de Cochinchina, [dịch ra tiếng Bồ từ văn bản tiếng Ý ấn hành ở Roma năm 1652, của Miguel Serras Pereiral], Macao, Tipog. da Missão, 1978, 27pp., e in Boletim Eclesiástico da Diocese de Macau, n.76,1978, pp.237-262.

  1. Cf. Missão de Cochinchina desde fim de 1642 ate o fim de 1643, thủ bút của cha Đắc Lộ S.J., đề ngày 15.11.1643 tại Macao, ở Văn Khố sử học của dòng Tên ở Roma, coll.Jap./Sin. 71,foll.224-237.
  1. Xem Congregatio de Causis Sanctorum, Prot. N.1022, Danagen. Olim Cocincin. Beatificationis seu Declaratioinis Martyrii Servi Dei Andreae, viri laici et catechistae, Proto-Martyris de Vietnam, Positio super Martyrio, 2 coll., Roma 1998.
  1. Tường Trình thứ hai, Positio, vol.I, p.92.
  1. Ivi.
  1. Chính cha Đắc Lộ đã mô tả chiếc gông này (cf.positio p.91). Gông hai cây gỗ tròn, mỗi cây dài khoảng 12 gang tay, chúng được xếp đặt như một cái thang với bốn thang ngang nhỏ, mỗi đầu cây gỗ tròn có hai thang ngang nối vào nhau, trong khi hai thang khác được đặt ở giữa gông cách đều nhau kẹp vào cổ tù nhân.
  1. Ivi, p.93
  1. Cf. Positio, p.126

—————-

Lm. Giuse Trần Đức Anh O.P chuyển ý

  • Untitled
    Kỷ niệm 350 năm thầy giảng Anrê Phú Yên, 26.7.1994, “ngày giáo lý viên Việt Nam” lần thứ nhất Em rao lanh lảnh bánh mì cá, Bánh mới ra lò, cá mới kho. Nghe chị giảng bài, em thấy lạ, Hiên ngoài em đứng, mắt giương to. Kìa chị kể về em đấy sao ? Đúng rồi, hôm ấy tựa chiêm [...] […]
  • Mùa phượng năm ấy
    Mấy trăm năm qua rồi mùa phượng đỏ Nay lại về sắc đỏ của phượng rơi. Anh ra đi giữa mùa hè dịu vợi, Dòng máu tươi thắm nhuộm giữa lưng trời. Anh hiên ngang ngẩng mặt với cuộc đời, Nét thanh thản chẳng gì làm nao núng. Ba nhát gươm làn tim thâu không đúng, Với hai lần mã tấu chém [...] […]
  • tiếng vọng
    Với những chiều như bao chiều lộng gió, Ngước mắt nhìn thổn thức chốn trời cao Anh đứng đó trong vòng tay vẫy gọi, Mắt tuôn trào ôi sung sướng biết bao. Anh đã chết nhưng anh đâu đã chết, Anh vẫn còn trong tiếng vọng tình yêu. Khi hiến trọn anh nhận được hơn nhiều Phúc vinh quang trên bước đường [...] […]
  • Dõi bóng thầy Anrê Phú Yên
    Đẹp biết bao dáng Môi-sê trên núi Tay vươn cao như thẳng tới nước trời. Đẹp biết bao tư thế một con người Quỳ cầu nguyện dẫu đầu rời khỏi cổ ! Thầy Anrê – Tên Thầy không biểu lộ Nhưng tình yêu Thầy chiếu tỏ khắp nơi. Danh Giêsu Thầy chúc tụng không ngơi, Thấm vào máu, dâng trào đời Tử [...] […]
  • Anrê Phú yên
    Trở lại giữa Hội An lịch sử Mắt nhìn trờ môi cất tiếng ca vang … Đem máu đào rửa một đời lâm lụi, Để từ đây vọng mãi tiếng vinh quang. […]
  • Những điểm tương đồng giữa hai người chứng : Anrê Kim thông và Anrê Phú Yên
    Tên tuổi của thày giảng An-rê Phú Yên gắn liền với vinh dự của người kitô hữu việt nam đầu tiên của giáo đoàn Đàng Trong, đã dám đổ máu đào để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giê-su Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để hoàn tất những điều mà Thiên Chúa đã hứa trong lịch sử và mở ra cho con người con đường về với Thiên Chúa Cha. […]
  • Anrê Phú yên, người trẻ trước những thách đố cho tương lai cuộc đời
    Sau gần bốn thế kỷ, ánh sáng của một vì sao đã chiếu đến mặt địa cầu : Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước ! Tiểu sử đời anh không ai biết gì hơn ngoài chứng từ của cha Đắc Lộ. Vị thừa sai nầy đã đưa anh vào đời sống niềm tin Kitô [...] […]
  • Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Chân Phước Anrê Phú Yên
    Trong Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã tuyên phong 44 Chân Phước tử đạo, trong danh sách có tên thầy giảng Anrê Phú Yên. Khi đạo Công giáo được truyền bá vào Việt Nam, nhiều thế hệ thầy giảng đã sát cánh cùng các vị truyền giáo ngoại quốc để đi rao giảng Tin Mừng cho đồng bào của mình. […]
  • Bản tường trình về cuộc tử đạo của thầy Anrê
    Mặc dầu chúng tôi hết sức khẩn khoản và dùng mọi lý lẽ trình với Quan Nghè Bộ, nhưng không thể nào làm cho quan tha mạng cho thày giảng Anrê vinh hiển. Thực vậy, Quan Nghè Bộ phàn nàn về các câu trả lời rất thẳng thắn của Thày giảng và nói: “Anh ta thật bạo gan khi trả lời với tôi rằng anh là Kitô hữu và tôn thờ Chúa Tể Trời Đất, và vì thế, anh sẵn sàng hiến […]
  • Thầy giảng Anrê Phú yên, vị tử đạo tiên khởi của nước Việt Nam
    Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng. Ba thế kỷ rưỡi trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư […]