Tên tuổi của thày giảng An-rê Phú Yên gắn liền với vinh dự của người kitô hữu việt nam đầu tiên của giáo đoàn Đàng Trong, đã dám đổ máu đào để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giê-su Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để hoàn tất những điều mà Thiên Chúa đã hứa trong lịch sử và mở ra cho con người con đường về với Thiên Chúa Cha.
Nếu lời chứng của cha Đắc lộ, được ghi lại trong “Cái chết vinh quang của Thày giảng An-rê thuộc xứ Đàng Trong, người đầu tiên đổ máu đào vì cuộc tranh cãi về Chúa Giê-su Kitô, trong Giáo Hội mới này” và trong bản “Tường trình về cái chết vinh quang của Thày giảng An-rê tử đạo tiên khởi xứ Đàng Trong ngày 26 tháng 7 năm 1644″ , được đón nhận như là một lời chứng lịch sử của người thầy biết rõ và làm chứng một cách trung thực về cuộc đời và cái chết của người học trò yêu dấu, An-rê Phú Yên quả là một con người đã được Chúa chuẩn bị từ trước, với tất cả những điều kiện thuận lợi, để trở thành của lễ đầu mùa dâng lên Thiên Chúa trong công cuộc truyền giáo tại miền Viễn Đông này.
Tìm hiểu về đời sống của thầy giảng An-rê Phú Yên qua ngòi bút trình bày của nhà nghiên cứu Phạm Đình khiêm trong cuốn “Người Chứng Thứ Nhất”, một ý tưởng chợt thoáng qua trong đầu tôi :”hình như lời chứng của An-rê Phú Yên làm tôi liên tưởng đến lời chứng của một ai đó″. Ý tưởng này thôi thúc tôi chìm sâu vào trong những trang sách kể về sinh hoạt của Giáo Hội lúc khởi đầu của thánh sử Luca, và rồi tìm thấy ở đó lời chứng của vị Tử Đạo đầu tiên của Giáo Hội : Têphanô.
An-rê, một người trẻ việt nam, được nuôi dưỡng và lớn lên trong bầu khí đượm tính truyền thống của dân tộc, được tiếp xúc với Tin Mừng của Đức Giê-su Kitô, thầy đã khám phá ra nơi vị Thầy Chí Thánh điều mà nền giáo dục truyền thống trước đây chưa thể làm đầy : “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy đem sự sống báo đền sự sống”. Têphanô, một người do thái thấm nhuần cả hai nền văn hoá do thái và hy lạp, “một người đầy lòng tin và Thánh Thần” (CV 6, 5b), biết đọc lại lịch sử thánh một cách tỉnh táo để có thể nhận ra đâu là truyền thống của Cha Ông cần phải giữ và đâu là những điểm của Cha Ông mà mình cần phải điều chỉnh. Chính nhờ đón nhận Tin Mừng của Đức Giê-su và can đảm bước theo Ngài, mà Têphanô khám phá nơi Ngài điều làm cho truyền thống của Cha Ông được nên kiện toàn. Hai con người sống vào hai thời điểm khác nhau và trong hai nền văn minh không giống nhau, nhưng có cùng chung một sự nhận thức và chung một lời chứng. Để có thể nhận ra được những điểm tương đồng giữa hai vị chứng nhân tiên khởi của hai Giáo Hội, chúng ta thử lướt qua cuộc đời và lời chứng của mỗi vị, rồi sau đó rút ra những bài học cần thiết cho đời sống của người kitô hữu hôm nay.
I/ An-rê Phú Yên, hoa trái của sự gặp gỡ giữa truyền thống và Tin Mừng
Đọc những lời chứng của cha Đắc Lộ về người thanh niên trẻ tuổi đầy nhiệt huyết này, ta có thể thấy được tầm ảnh hưởng của nền giáo dục gia đình truyền thống việt nam trong việc chuẩn bị cho người trẻ này đón nhận Tin Mừng như thế nào.
Cha Đắc Lộ nói về thầy như sau : “Thầy bản tính hiền lành, trong sạch, ngay thật, rất có khả năng chịu mọi tác dụng của ơn thánh hoá” . Những đức tính tốt mà cha Đắc Lộ nói về người học trò của mình không phải là những nhân đức “Đối Thần”, nghĩa là những nhân đức mà người ta chỉ có thể tập luyện được khi người ta có được ơn thánh sủng, nhưng là những nhân đức mà con người, nhờ việc giáo dục đời sống nhân bản, có thể đạt được. Đây là một trong những điểm căn bản của nền giáo dục gia đình việt nam và cũng là những điểm mà “Bài Giảng Trên Núi” mời goi mọi người hướng tới :
“Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp…
Phúc thay ai khao khát nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa…” (Mt 5, 1-12).
Được biết Chúa Giê-su, An-rê không muốn giữ Ngài lại cho mình, nhưng muốn được chia sẻ niềm vui này với bao anh chị em khác đang sống trên cùng mảnh đất quê Cha đất Tổ. Tinh thần chia sẻ này phải chăng cũng là hệ luỵ của tinh thần tương thân tương trợ, chia cơm sẻ áo, thấm nhuần từ kinh nghiệm của người đã từng được nuôi dưỡng trong truyền thống của một gia đình mà trong đó mỗi thành phần không đóng kín trên chính mình, chỉ biết nghĩ đến mình, nhưng biết đặt niềm hạnh phúc của mình trong tương quan với những thành phần khác chăng ?
Gia nhập hội “Thầy Giảng”, ngoài các môn học về tu đức và giáo lý, các thầy còn phải học về văn chương, cũng như kinh điển để có kiến thức cần thiết trong việc trình bày niềm tin kitô giáo cho anh em đồng bào. Về mặt này, An-rê có vẻ trổi vượt hơn các bạn trẻ khác. Cha Đắc Lộ nói :”.. An-rê học hành có kết quả đến nỗi Y-nha-xô phải nói với tôi rằng : trong tất cả các môn sinh, không một người nào đọ kịp trí tuệ của An-rê; thầy linh lợi thông minh học đâu hiểu đó″ . Không những tiến bộ về mặt trí thức, An-rê còn tiến bộ rất nhiều về mặt nhân đức, đến nỗi chỉ sau một thời gian ngắn sống trong hội thầy giảng, điều mà cha Đắc lộ nhận ra nơi thầy trước kia, cũng được các anh em sống chung trong nhà nhận ra :”An-rê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn thầy đã biểu lộ ra ngoài; thầy sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ; thầy có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người, khiến ai cũng đều cảm phục” . Bên cạnh tư thái hiền hậu mà cha Đắc Lộ đã đề cập lúc đầu, trong đoạn này, ngài nói thêm hai điểm sáng nữa của An-rê : “đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người”. Đức vâng lời và lòng kính trọng tha nhân không phải là một trong những điểm căn bản trong nền giáo dục của gia đình việt nam : “kính trên, nhường dưới; trên thuận, dưới hoà” đó sao ?
Đã quen trong đời sống của gia đình nông thôn, ngay từ nhỏ mỗi người một việc, mỗi người cố gắng làm tròn bổn phận của mình, nên An-rê trong đời sống cộng đoàn luôn chứng tỏ một tinh thần trách nhiệm phục vụ cao độ. Mặc dù mang dáng dấp một con người nhỏ bé yếu đuối, thầy An-rê vẫn cố gắng tham gia vào sinh hoạt cộng đoàn như một thành phần tích cực, không nề hà bất kỳ một công việc nào :”Người thầy không mạnh khoẻ gì lắm, thế mà việc khó mấy trong nhà, thầy cũng làm luôn, nhiều khi lại làm quá sức mình; thầy quên mình để giúp người khác” .
Sau khi đã được tuyên khấn, và đặc biệt là khi các thầy phải đi truyền giáo một mình vì cha Đắc Lộ đã đáp tầu đi về Áo Môn vào tháng 09 năm 1643, An-rê tham gia tích cực vào công việc truyền giáo. Bên cạnh thầy I-nha-xô thông thái và lợi khẩu, An-rê chứng tỏ là người phụ tá cần mẫn và năng động, thầy làm tất cả những diều mà một người môn đệ yêu mến conđường phục vụ của mình sẽ làm với tất cả lòng quảng đại : “Thày An-rê đặc biệt chăm chỉ đi theo thày giảng sốt sắng Y-nha-xô trong mọi hoạt động vì lòng bác ái, thày đến tận kinh đô xứ Đàng Trong, ở đó riêng mình thày làm việc bằng nhiều kẻ khác….. Thày giảng đạo cho người ngoại giáo, dạy dỗ kẻ tân tòng, dọn dẹp nhà thờ rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ những ngày lễ lớn quanh năm, khéo léo đến nỗi làm cho các bổn đạo tăng thêm lòng sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính những mầu nhiệm của đạo” .
Trong đời sống cộng đoàn, thầy tận tuỵ giúp đỡ mọi người; trong cuộc sống thường ngày, thầy luôn sống trong hiền lành và khiêm tốn; thế nhưng khi cơn ba đào xô đến, khi thầy cần phải bảo vệ niềm tin của mình và bảo vệ những anh em đang bị đau yếu, thầy can đảm và khẳng khái như một người sĩ quan nơi trận tuyến. Vì thế, khi binh lính, theo lệnh của ông Nghè Bộ, đến nhà của các thầy để lùng bắt thầy I-nha-xô; nhưng lúc đó thầy I-nha-xô đi vắng, chỉ còn An-rê ở nhà săn sóc bốn thầy đang đau bệnh, thầy An-rê không khiếp đảm chạy trốn, nhưng dám can đảm gánh lấy trách nhiệm về phần mình. Thầy bạo dạn ra gặp bọn lính và nói:”Nếu các ông muốn bắt thầy Y-nha-xô thì vô ích, vì Y-nha-xô không có ở nhà. Còn muốn bắt tôi thì rất dễ dàng : tôi là giáo hữu, hơn nữa là thầy giảng. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho thầy Y-nha-xô để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội thì làm sao tôi vô tộiđược” . Ngay cả khi bị bắt giải đi, thấy lính lôi một thầy đang đau ra định bắt giải đi với mình, An-rê trước phản đối, sau thuyết phục ngọt ngào, khiến cho bọn lính cũng phải thả thầy kia ra.
Đứng trước quan Nghè Bộ, thầy thanh thản và cương quyết trả lời từng câu hỏi của quan. Khi được yêu cầu “phải bỏ đạo Bồ Đào Nha mà trở lại đạo nước nhà mình. Nghĩa là bỏ Đức Giê-su mà theo đạo Thích Ca. Thầy ấy thưa rằng : thà chịu mọi sự khó mà chẳng thà bỏ đạo rất thánh mình đã chịu. Vì chưng mình ước ao chịu chết cho được cám ơn trả nghĩa Chúa Trời đất đã dựng nên mình cùng đã chịu chết vì mình” .
Cần phải ghi nhận thêm một vài điểm trong quan niệm của ông Nghè Bộ. Là vị quan triều đình, nhưng có lẽ hoặc là do ông bị ảnh hưởng của Phật giáo, hoặc là xã hội việt nam lúc đó thấm nhuần tinh thần của đạo Phật, nên ông đồng hoá một cách dễ dàng “đạo nước nhà mình” và Phật giáo. Hơn nữa, khi ông coi đạo của những người Bồ Đào Nha là đạo nghịch với “đạo nước nhà mình” là ông đặt ở thế đối đầu giữa hai tôn giáo này. Thế nhưng, trong dòng lịch sử, cho đến nay chưa bao giờ truyền thống việt nam chính thức mặc cho mình một tôn giáo nào cả. Có thể có những người Việt Nam trí thức và quyền thế thích tôn giáo này hay tôn giáo khác, tư tưởng này hơn tư tưởng khác, nhưng họ chỉ là những người có ảnh hưởng trên xã hội việt nam trong một thời gian ngắn. Tư tưởng của họ không phải là Truyền Thống của người Việt Nam, và vì thế, cũng không thể gọi là đạo nước nhà mình được. Trong lịch sử, xã hội việt nam rất bao dung với các tôn giáo. Bất kỳ tôn giáo nào giúp cho con người xây dựng được đời sống của mình một cách có ý nghĩa và giúp cho xã hội được sống hài hoàđều được người Việt Nam đón nhận một cách trân trọng. Cho đến khi Kitô giáo được du nhập vào Việt Nam, truyền thống Việt Nam vẫn thao thức đi tìm kiếm cho mình một con đường giúp cho mình phát triển trên nguyên tắc “sống thuận lòng Trời, hợp lòng người”. Tinh thần “Đạo hiếu” của truyền thống Việt Nam chỉ có thể tìm thấy câu trả lời đích thực của mình trong khi đón nhận niềm tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Nhập Thể Làm Người để chỉ cho chúng ta cách thế sống đẹp lòng Chúa nhất. Chính khi sống trong Đức Kitô, người Anh Cả của mọi loài thụ tạo, mà người kitô hữu có thể sống với Thiên Chúa Cha trong tâm tình con thảo. Vì thế, khi nghe quan Nghè Bộ dụ dỗ trở về với đạo nước nhà mình, An-rê vẫn giữ vững lập trường, vì thầy biết rằng chính niềm tin vào Đức Kitô sẽ thổi vào truyền thống Việt Nam luồng sinh khí mới, để truyền thống này có thể đạt tới vẻ đẹp viên mãn của mình.
Khi các tín hữu đến thăm thầy tại nhà lao, An-rê nhắn nhủ :”Hỡi anh em, đối với Chúa Giê-su rất yêu dấu của ta, ta hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết đau khổ vì ta, ta hãy lấy sự sống đáp lại sự sống” . Thầy còn nói thêm : “Các anh em thấy rõ tôi đây đã bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải vì ăn cướp, giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Tể Trời đất và Con Một Người xuống thế chịu chết chuộc tội cho ta. Mọi sự ta có đều do nơi người. Thế mà người ta lại muốn tôi phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ hình phạt nào người ta có thể bắt tôi chịu, tôi chỉ sợ lửa hoả ngục đời đời, là hình phạt dành cho kẻ từ chối không tin thờ Chúa Giê-su Kitô là Đức Chúa Trời thật. Hỡi anh em, anh em hãy coi chừng, đừng từ chối ơn Đức Chúa Trời muốn ban cho anh em, phải liệu sao cho khỏi bị xử phạt đời đời” .
Thầy nóng lòng chờ đợi giờ phút được lãnh triều thiên vinh quang. Thầy nói : “Tôi tưởng như cửa Thiên Đàng đã mở ra cho tôi, tôi thấy Chúa Giê-su đang đứng trước cửa đó để đón nhận tôi, bao nhiêu thánh Tử Đạo giơ cho tôi mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi! Thiên đàng! Hạnh phúc dường nào! Mau mau cho tôi về Thiên đàng! Tại sao người ta trì hoãn tôi lâu vậy” .
Lúc quân lính tháo gông ở cổ thầy ra để xuống đất rồi lấy thừng trói ngang người, biết là giờ đã đến, thầy quay lại phía các tín hữu để từ biệt lần sau hết : “hỡi anh em, chúng ta hãy giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giê-su cho đến hết hơi, cho đến trọn đời” .
Và rồi khi người lý hình cầm giáo đâm thủng ngực, thầy vẫn ngửa mặt nhìn trời, miệng không ngớt kêu tên cực trọng : Giê-su! Maria! Ngay cả khi đầu rời khỏi cổ, tên cực trọng Giê-su vẫn tiếp tục phọt ra nơi cuống họng của vị anh hùng tử đạo. Cha Đắc Lộ nói :”Thánh Danh Giê-su không thể phát ra đàng miệng thầy nữa, thì lại phát ra từ trái tim thầy, ngay đang lúc thôi đập, để tỏ rằng trái tim này dầu có chết, cũng còn giữ mãi Thánh Danh kia, và khi không thể dùng miệng lưỡi mà ca ngợi Tên Giê-su được, thì thầy dùng chính vết thương mình mà ca ngợi Danh Chúa” .
Thầy An-rê đã ngã xuống trên mảnh đất quê hương của mình để làm chứng cho một tình yêu kỳ diệu “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu”. Dòng máu của Thầy đã làm nảy sinh không biết bao nhiêu là người con của một dân tộc kiêu hùng, những người luôn biết “đem sự sống báo đền sự sống”. Nhìn vào cuộc đời và chứng tá của thầy giảng An-rê, chúng ta có thể thấyđược rằng nền giáo dục truyền thống của gia đình việt nam và ánh sáng của Tin Mừng đã tạo nên được sự hài hoà làm chúng ta liên tưởng đến những yếu tố của âm thanh có thể dệt nên được sự hài hoà của bản giao hưởng tuyệt vời, mà nếu thiếu một trong hai yếu tố này, bản giao hưởng sẽ chỉ là một sự kết hợp của những nốt nhạc không hồn. Nói khác hơn, Tin Mừng đang cần đến truyền thống giáo dục của gia đình việt nam để những “Chữ Viết” (Kinh Thánh) có thể biến thành “Lời” (Lời Chúa), và truyền thống Việt Nam đang cần đến sự bám rễ sâu của Tin Mừng để một thân xác bắt đầu lên tiếng nói. Thực vậy, qua cuộc sống của thầy An-rê, những điều thầy đã được đón nhận trong gia đình đã giúp thầy trở nên miếng đất màu mỡ cho hạt giống đức tin được đơm hoa kết trái, và những gì thầy học được từ Đấng Tử Nạn – Phục Sinh giúp cho thầy có một tình yêu lớn hơn cả tình yêu của chính bản thân mình.
II/ Têphanô, hoa trái của sự gặp gỡ giữa truyền thống và sự hướng dẫn của Thánh Thần (Cv 6, 1 – 8, 1)
Theo lời kể của thánh sử Luca, vào thời các Tông Đồ, các môn đệ tin vào Chúa Giê-su càng ngày càng thêm đông; vì thế, việc quản trị đời sống cộng đoàn ở Giê-ru-sa-lem càng trở nên phức tạp hơn; và các Tông Đồ không thể quán xuyến tất cả những việc này. Những hình ảnh đẹp về một cộng đoàn “chỉ có một lòng một ý” (Cv 4, 32), hoặc trong cộng đoàn này, “không ai phải thiếu thốn… ai nấy được phân phát theo nhu cầu” (Cv 4, 34-35), đã phải nhường lại cho những tiếng phàn nàn của những người tín hữu Do Thái theo văn hoá hy lạp kêu trách những tín hữu Do Thái bản xứ, “vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên” (Cv 6, 1). Những người theo văn hoá hy lạp, thường là những người Do Thái kiều cư sống ở nước ngoài, trở về Giê-ru-sa-lem để mừng lễ theo thông lệ hằng năm, hoặc là những người ngoại giáo có cảm tình với niềm tin vào Thiên Chúa của người Do Thái, nhưng chưa thực sự trở lại Do Thái Giáo, họ thường được gọi bằng tên “những người kính sợ Chúa”(Cv 13, 43; 17, 4). Những người này thường sẵn sàng đón nhận niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh nhờ lời rao giảng của các Tông Đồ.
Đứng trước hoàn cảnh mới này, Nhóm Mười Hai đã triệu tập toàn thể các môn đệ và yêu cầu họ chọn ra trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan để các ngài cắt đặt công việc quản trị cộng đoàn. Họ chọn được bảy người theo tiêu chuẩn trên, đứng đầu là “ông Têphanô, một người đầy lòng tin và Thánh Thần” (Cv 6, 5). Trong nhóm bảy người này có một người dân ngoại quê An-ti-ô-khi-a trở lại đạo. Các Tông đồ đã cầu nguyện và “đặt tay trên các ông” (Cv 6, 6). Từ đây, trong Giáo Hội sơ khai, đã hình thành nhóm Bảy Người, thấm nhuần cả nền văn hoá do thái lẫn hy lạp, bên cạnh nhóm Mười Hai, đa số nghiêng về văn hoá do thái và là những chứng nhân đầy uy tín về Chúa Giê-su “từ khi Ngườiđược ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời” (Cv 1, 21-22).
Được đặt đứng đầu nhóm Bảy Người, ông Têphanô được mọi người biết đến như một người “được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng và dấu lạ lớn lao trong dân” (Cv 6, 8). Có lẽ vì ông thông hiểu văn hoá hy lạp, nên ông thường có những tiếp xúc với những người Do Thái sống trong vùng ảnh hưởng của văn hoá hy lạp, và qua đó ông rao truyền Tin Mừng của Chúa Giê-su cho họ. Và có lẽ hiểu được tâm lý của những kiều bào có lòng yêu mến và tuân giữ Lề Luật của Cha Ông nhưng phải sống ở nước ngoài, vì họ thường có khuynh hướng bảo tồn truyền thống theo cách “bảo hoàng hơn vua”, nên Têphanô, trong khi trình bày Tin Mừng của Chúa Giê-su, muốn chứng minh Ngài đích thực là Đấng được sai đến để hoàn thành lời hứa cho dân tộc Israel. Ông phân tích cách trình bày của các luật sĩ và tư tế đương thời về truyền thống của Cha Ông với mục đích chối bỏ Chúa Giê-su, để rồi đưa ra cách hiểu về truyền thống đích thực của Cha Ông trong dòng lịch sử cứu độ. Sách Công Vụ Tông Đồ 6, 9-10 có thuật lại cuộc tranh luận giữa Têphanô và nhóm này : “Có những người thuộc hội đường gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Ky-rê-nê và A-lê-xan-ri-a, cùng với một số người gốc Ki-li-ki-a và A-xi-a, đứng lên tranh luận với ông Tê-pha-nô. Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông” .
” Lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông Têphanô” là gì nếu không phải là chính Chúa Thánh Thần đã soi sáng trí khôn, để từ ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô, ông có thể làm một bản phân tích và tổng hợp truyền thống của cha ông trong lịch sử, được viết lại trong sách thánh hoặc được truyền miệng lại, rồi đưa ra một nhận định rõ ràng về ý nghĩa của các biến cố mà Chúa đã gởi đến cho dân Ngài trong suốt dòng lịch sử. Chính nhờ sự phân tích và tổng hợp này mà Têphanô, tuy rằng luôn tôn trọng truyền thống của Cha Ông, biết phân biệt đâu là truyền thống cần phải giữ gìn và đâu là truyền thống bị hiểu một cách sai lệch.
Vì không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho Têphanô, họ vu oan giá hoạ để làm hại ông trước Thượng Hội Đồng. Chứng gian được đưa ra vẫn là theo mô hình cũ : nói lời phạm thượng đến Nơi Thánh và Lề Luật, muốn thay đổi những tục lệ mà ông Moisen đã truyền lại cho họ. Trước mặt vị Thượng Tế và Hội Đồng, Têphanô đã mạnh dạn trình bày lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã tỏ bày cho nhà Israel, trong đó ông phân biệt rõ ràng những điều thuộc về truyền thống của niềm tin Cha Ông và những điều người ta muốn gán cho truyền thống để bảo vệ cho hành vi sai trái của mình. Chúng ta thử phân tích diễn từ của Têphanô (Cv 7, 2-53) để hiểu rõ điều này.
Từ câu 2 đến câu 37, Têphanô tóm lại một cách súc tích và đầy đủ từ việc Chúa gọi Abraham đến việc Giu-se bị bán sang đất Ai-cập, việc Moi-sen giải phóng dân khỏi cảnh nô lệ ở Ai-cập, vượt qua Biển Đỏ, rồi đưa vào sa mạc. Cho đến lúc này, Têphanô vẫn xếp các Tổ Phụ vào cùng một phía những người nghe theo tiếng Chúa và thi hành thánh ý Ngài. Nhưng từ câu 38 đến câu 50, ông phân tích 2 sự kiện mà qua đó chứng minh là chính Cha Ông đã chống lại, làm sai ý của Chúa muốn trên họ, thay vì phải vâng theo lệnh của Ngài qua trung gian Moi-sen.
Trong sự kiện thứ I (Cv 7, 38-43) , ông phân biệt một bên là Moisen, trung gian giữa Thiên Chúa và dân Ngài, bên kia là “Cha Ông chúng ta”, những người không muốn vâng lời Moisen; “họ đã gạt ông ra và trong thâm tâm, họ đã quay lại Ai-cập” (c. 39). Thay vì tôn thờ Thiên Chúa, Đấng đã dùng quyền năng để giải phóng họ ra khỏi cảnh nô lệ Ai-cập, họ lại đúc tượng Bò vàng, dâng lễ tế cho ngẫu tượng ấy và ăn mừng công trình do tay họ làm ra. Thờ lạy ngẫu tượng đó là một tội nặng nề trước mắt Thiên Chúa, thế mà Cha Ông họ đã làm. Nếu như cứ tuân thủ theo Cha Ông một cách mù quáng, thử hỏi dân Chúa sẽ đi về đâu ?
Trong sự kiện thứ II (Cv 7, 44-50) , Têphanô so sánh Lều chứng ước, mà Cha Ông trong suốt hành trình sa mạc và trong thời Đavít đã dùng như nơi Chúa ngự, và ngôi đền do vua Salomon xây dựng nên. Trong khi Lều chứng ước được làm theo mẫu mà Thiên Chúa truyền cho Moi-sen, ngôi đền con người xây cất thì làm theo kiểu mẫu và cách suy nghĩ của con người. Ông đi đến kết luận :”Tuy nhiên, Đấng Tối Cao không ở trong những ngôi nhà do tay người phàm làm ra”.
Cũng cần phải ghi nhận rằng phần cuối của cả hai lần phân tích sự kiện Têphanô đều trích dẫn lời của các tiên tri. Để chứng minh cho phân tích của mình trong Cv 7, 38-43, ông trích lời Tiên Tri Amos, một người Juda nhưng làm tiên tri ở vương quốc phía Bắc, Israel, vào thế kỷ thứ 8 trước công nguyên. Trong phần thứ II, Cv 7, 44-50, ông dùng lời của tiên tri Isaia, người thi hành sứ vụ tại Giê-ru-sa-lem trong những năm tiếp theo sau biến cố trở về từ cuộc lưu đày Babylone. Trong Kinh Thánh, truyền thống các tiên tri luôn kêu gọi dân Chúa hoán cải tâm hồn, trở về với lựa chọn căn bản của mình từ ban đầu; lựa chọn này thường bị những người lãnh đạo, đại diện là các vua chúa hay các tư tế, giải thích một cách sai lạc theo nhãn quan của con người và kéo dân Chúa đi vào con đường lầm lạc. Trong khi đặt mình vào trong truyền thống tiên tri để phân tích những hành vi của truyền thống Cha Ông, Têphanôđặt mình vào trong truyền thống của những người sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần chống lại với những người sống theo tinh thần thế gian.
Sau khi kết thúc bài diễn từ, Têphanô ngỏ lời với Thượng hội đồng và những người tố cáo ông rằng họ “luôn luôn chống lại Thánh Thần”, Đấng hướng dẫn lịch sử và con người bước đi trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thái độ chống lại Thánh Thần đã được biểu lộ trong hành vi của Cha Ông họ, khi những người này sát hại các tiên tri được sai đến loan báo việc Đấng Công Chính sẽ đến, và thái độ này cũng được biểu lộ nơi chính họ, khi họ phản bội và sát hại Đức Giê-su Kitô (Cv 7, 51-53).
Nghe những lời của Têphanô, những kẻ chống ông nổi điên lên, họ nghiến răng căm thù ông; trong khi đó, Têphanô “được đầy ơn Thánh Thần, đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giê-su đứng bên hữu Thiên Chúa (c. 55). Họ nhất tề xông vào ông, rồi lôi ông ra ngoài thành ném đá. Than ôi, một lần nữa họ lại phạm đến Thánh Thần. Trong khi những người này chống lại Thánh Thần, thì Têphanô lại được chìm sâu trong Thánh Thần. Ông không nhìn thấy nơi họ hình ảnh của những người lý hình, những kẻ giết người, nhưng là những người anh em vẫn đang còn chạy trốn tiếng nói của Thánh Thần, hay có thể là chưa sẵn sàng để Thánh Thần hướng dẫn họ. Và vì thế, trong hơi thở cuối cùng, ông vẫn kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” (Cv 7, 60).
Têphanô đã ra đi. Chính trong chứng từ của ông qua cái chết đau thương mà người ta thấy được rằng một người sống trung thành với truyền thống của Cha Ông dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần có khả năng khám phá ra Chúa Giê-su là Thiên Chúa Hằng Sống. Không những chỉ đón nhận, Têphanô còn để cho Chúa Giê-su thánh hoá đời mình và làm cho ông trở nên giống Ngài. Lời cầu nguyện xin ơn tha thứ cho những kẻ ném đá mình cho đến chết không nói với chúng ta rằng Têphanô đã theo Chúa Giê-su cho đến giây phút cuối cùng của Ngài trên Thập Giá (Lc 23, 34) đó sao ?
III/ Đức Kitô, mẫu gương của hai vị Chứng Nhân
Qua phân tích về cuộc sống và gương chứng nhân của cả hai vị Tử Đạo tiên khởi của hai Giáo Hội, chúng ta có thể rút ra được một vài điểm để tiếp tục suy tư.
Trước hết, Đức Giê-su Kitô không phải là một yếu tố xa lạ với con người và với truyền thống trong đó con người được nuôi dưỡng. Khi Têphanô đặt Chúa Giê-su vào giữa trái tim của truyền thống Cha Ông trong cái nhìn của các tiên tri, ông đã tập hợp được chủ đề và những yếu tố cần thiết để cho những truyền thống trước kia bị phân tán rời rạc nay tạo thành bức tranh tuyệt vời. Chính trong sự đón nhận Chúa Giê-su là Đấng được Thiên Chúa sai đến mà truyền thống Cha Ông chứng minh được rằng Chúa đã và đang dùng họ để mạc khải chính mình Ngài cho thế giới. Khi An-rê Phú Yên hiến đời mình theo tiếng gọi của Chúa Giê-su và trở nên của lễ đầu mùa của Giáo Hội Đàng Trong, anh chứng minh được rằng chính Đức Kitô đã đem lại cho truyền thống của người Việt Nam câu trả lời tuyệt với cho thao thức thâm sâu của mỗi người dân Việt : Sống Tinh Thần Đạo Hiếu.
Thứ đến, khi chấp nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Thế và can đảm bước theo Ngài, người môn đệ đã làm cho mình càng ngày càng trở nên người hơn. Thực vậy, những hậu quả của nguyên tội làm cho con người trở nên ích kỷ, đóng kín cửa lòng mình trước tiếng nói của Thiên Chúa và tha nhân, bây giờ được chữa lành một cách triệt để. “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy đem sự sống báo đền sự sống” hay “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” không phải là những chứng từ hùng hồn cho một tình yêu lớn hơn cả bản thân mình sao ?
Cuối cùng, sự mầu nhiệm mà Chúa thực hiện trên con người không chỉ được thể hiện nơi cuộc sống của hai vị Tử Đạo nói trên, nhưng vẫn tiếp tục tác động trên mỗi người kitô hữu, những người dám chấp nhận tin vào Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và dám để cho Thánh Thần hướng dẫn mình bước đi theo Ngài. Nếu mỗi người kitô hữu hôm nay biết cố gắng để cho tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày nơi chính bản thân mình, đó không phải là tin vui lớn lao cho thế giới này sao ?
|